Khác biệt giữa các bản “M-113”

Không thay đổi kích thước ,  4 năm trước
n (→‎Các nước sử dụng: clean up, replaced: → (4) using AWB)
(→‎M-113 trong Chiến tranh Việt Nam: Sửa lỗi chính tả)
Theo học thuyết quân sự Hoa Kỳ, loại M-113 được dùng như một loại "Taxi chiến trường" mang quân đến tận trận địa rồi đội quân xuống bộ tấn công mục tiêu. [[Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ]] khẳng định Việt Nam là chiến trường của Bộ binh, không phải là nơi đắc dụng cho lực lượng thiết giáp. Các nhà quân sự Mỹ kết luận rằng Việt Nam có địa hình chi chít núi non rừng rậm và nhiều sông ngòi đầm lầy chỉ là "mồ chôn" cho các loại xe cơ giới này.
 
Tuy nhiên, trên chiến trường Việt Nam, kinh nghiệm cho thấy lực lượng bộ binh dù đã được đưa tới sát mục tiêu nhưng vẫn thường xuyên bị tổn thất nặng, khả năng di động bị hạn chế tối đa, nếu ra khỏi tầm yểm trợ của thiết vận xa. Từ những kinh nghiệm đó, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã biến M-113 dần trở thành xe chiến đấu bộ binh hơn là một xe APC thuần túy. Với một đại liên 12,7 mm và hai trung liên 7,62 mm bắn được về phía bên sườn, M-113 đã trở thành một lô cốt di động khá lợi hại, bộ binh trong xe có thể chiến đấu trực tiếp thay vì chỉ núp kín và chờ đến nơi quy định mới xuống xe để chiến đấu.
 
Ban đầu, các xe chuyển giao cho phía Việt Nam Cộng hòa được đem huấn luyện và trắc nghiệm trong các cuộc hành quân bộ binh có sử dụng cơ giới. Ngày 30 tháng 2 năm 1962, 32 chiếc M-113 được chuyển giao cho các đơn vị chiến đấu, trong đó 30 chiếc được tổ chức thành hai đại đội thiết giáp, mỗi đại đội có 15 chiếc. Mỗi đại đội gồm có 3 chi đội chiến đấu và 1 chi đội yểm trợ, mỗi chi đội chiến đấu có 3 M-113, chi đội yểm trợ có 4 chiếc M-113, trong đó có 3 chiếc được gắn súng cối 60 ly và 3 súng phóng hỏa tiễn 3.5 và một ban chỉ huy đại đội có 2 M-113, một dành cho đại đội trưởng và một cho đội Bảo trì và sửa chữa. Hai đại đội M-113 ngay lập tức được đưa đến đồng bằng Cửu Long, trực thuộc Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh, tham gia bảo vệ trục lộ huyết mạch nối miền Tây với Sài Gòn.
Người dùng vô danh