Khác biệt giữa các bản “Phạm Ngọc Sang”

n
sửa chính tả 3, replaced: uơng → ương (2), thứ 4 của → thứ tư của using AWB
n (sửa chính tả 3, replaced: uơng → ương (2), thứ 4 của → thứ tư của using AWB)
Giữa năm 1956, ông được cử đi du học khóa huấn luyện trên Vận tải cơ DC.4 tại Căn cứ Không quân Hickam Field, Honolulu, Tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Đầu năm 1957, ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] và được chỉ định hướng dẫn Phái đoàn Không quân Việt nam Cộng hòa công du thăm viếng Hoa Kỳ.
 
Cuối năm 1959, ngày Quốc khánh năm thứ 4 của Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10, ông được thăng cấp [[Trung tá]]. Qua đầu năm 1961, ông được cử đi du học khoá chỉ huy và tham mưu cao cấp tại Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.
 
Cuối năm 1964, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang thay thế Đại tá [[Lê Trung Trực]]. Đến giữa năm 1965, ông được lệnh bàn giao Trung tâm Huấn luyện lại cho Trung tá Nguyễn Văn Ngọc để đi giữ chức vụ Tư lệnh Không đoàn 33 Chiến thuật tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt.
Ngày 15 tháng 3, được lệnh di tản chiến thuật Sư đoàn 6 Không quân từ Pleiku xuống Phan Rang.
 
Trưa ngày 16 tháng 4, ông bị quân đối phuơngphương bắt cùng với Trung tướng [[Nguyễn Vĩnh Nghi]], bị tạm giam tại Cam Lâm, Khánh Hoà rồi Đà Nẵng, cuối cùng bị đưa ra Bắc qua các trại giam: Sơn Tây, Hoàng liên Sơn, Hà Tây, Hà Sơn Bình, Nam Hà. Sau đó, ngày 31 tháng 11 năm 1988 được đưa về miền Nam giam giữ ở trại Z30.D Hàm Tân, Bình Thuận. Cho đến ngày 11 tháng 2 năm 1992 ông mới được trả tự do.
 
Ngày 22 tháng 2 năm 1992, cùng với gia đình xuất cảnh theo chương trình "Ra đi có trật tự" diện H.O. Sau đó định cư tại Garden Grove, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.
 
Ngày 30 tháng 11 năm 2002, ông từ trần tại nơi định cư. HuơngHương thọ 71 tuổi.
 
==Gia đình==
*Song thân: Cụ Phạm Ngọc Bé (1911-1996) và cụ Nguyễn Thị Quờn
*Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Bôn (Sinh năm 1933) - Ông bà có 5 người con gồm: 3 trai, 2 gái.
 
==Tham khảo==