Khác biệt giữa các bản “Enver Hoxha”

n
AWB, replaced: người Serbia → người Serb (2) using AWB
n (→‎Quan hệ với Trung Quốc: sửa chính tả 3, replaced: thứ 3 của → thứ ba của using AWB)
n (AWB, replaced: người Serbia → người Serb (2) using AWB)
 
==== Bất đồng với những người cộng sản Nam Tư ====
Tuy nhiên, có một vấn đề đã nảy sinh khi những người cộng sản Nam Tư không đồng ý với mục tiêu Đại Albania và yêu cầu những người cộng sản Albania thu hồi ý định của họ. Theo Hoxha, [[Josip Broz Tito]] đã đồng ý rằng "Kosovo là của người Albani" song do sự chống đối của [[người SerbiaSerb]] nên việc thực hiện chuyển giao phải chọn lựa một cách khôn ngoan.<ref>Nora Beloff, ''Tito's Flawed Legacy'' (Boulder: Westview Press, 1985), 192.</ref> Sau khi những người cộng sản Albania từ bỏ tư tưởng Đại Albania, Balli Kombëtar đã chỉ trích những người cộng sản, những người đã cáo buộc Balli Kombëtar đứng bên cạnh người Ý. Tuy nhiên, Balli Kombëtar thiếu sự ủng hộ của người dân. Sau khi đánh giá những người cộng sản là một mối đe dọa trực tiếp cho đất nước, Balli Kombëtar đã đứng cạnh [[Đức Quốc xã]], gây tổn hại chết người cho hình ảnh của họ đối với những người đấu tranh chống phát xít. Những người cộng sản nhanh chóng bổ sung vào hàng ngũ của mình những người thất vọng với Balli Kombëtar và nắm lấy vai trò trung tâm trong cuộc đấu tranh giải phóng.<ref>O'Donnell, pp. 10–11. Jacques, pp. 421–423.</ref>
 
Đại hội Quốc gia Permet đã được tổ chức trong thời điểm đó đã kêu gọi về một "Albania dân chủ mới cho người dân." Vua Zog đã bị cấm không bao giờ được thăm lại Albania, và quyền kiểm soát của cộng sản được tăng cường. Ủy ban chống Phát xít vì Giải phóng Dân tộc đã được thành lập, với chủ tịch là Hoxha. Ngày 22 tháng 10, Ủy ban trở thành [[Chính phủ Dân chủ Albania]] sau cuộc họp tại [[Berat]] và Hoxha được lựa chọn làm Thủ tướng của chính phủ lâm thời. Các tòa án được thiết lập để cố gắng tuyên bố các tội phạm chiến tranh, những người bị định là "[[kẻ thù của nhân dân]]"<ref>O'Donnell, p. 12.</ref> và do [[Koçi Xoxe]] chủ trì.
Nguồn gốc Illyria của người Albania (không phủ nhận nguồn gốc ''[[người Pelasgia|Pelasgia]]''<ref name="schwandner2">Stephanie Schwandner-Sievers, Bernd Jürgen Fischer, Albanian Identities: Myth and History, Đại học Indiana Press, 2002, ISBN 978-0-253-34189-1, page 96, "but when Enver Hoxha declared that their origin was Illyrian (without denying their Pelasgian roots), no one dared participate in further discussion of the question".</ref>) tiếp tục đóng vai trò đáng kể trong chủ nghĩa dân tộc Albania,<ref>ISBN 960-210-279-9 Miranda Vickers, The Albanians Chapter 9. "Albania Isolates itself" page 196, "From time to time the state gave out lists with pagan, supposed Illyrian or newly constructed names that would be proper for the new generation of revolutionaries."</ref> kết quả là một sự hồi sinh những cái tên được cho là có nguồn gốc "Illyria", song chúng lại liên quan đến Kitô giáo. Đầu tiên, các nhà văn dân tộc chủ nghĩa Albania đã chọn người Pelasgia làm tổ tiên của người Albania, song dưới thời Enver Hoxha, người Pelasgia chỉ là một yếu tố thứ cấp<ref name="schwandner2">Stephanie Schwandner-Sievers, Bernd Jürgen Fischer, Albanian Identities: Myth and History, Indiana University Press, 2002, ISBN 978-0-253-34189-1, page 96, "but when Enver Hoxha declared that their origin was Illyrian (without denying their Pelasgian roots), no one dared participate in further discussion of the question".</ref> cho học thuyết Illyria về nguồn gốc của người Albania, nó cũng được một số ủng hộ từ các học giả.<ref>Madrugearu A, Gordon M. The wars of the Balkan peninsula. Rowman & Littlefield, 2007. p.146.</ref>
 
Thuyết nguồn gốc Illyria nhanh chóng trở thành một trong các trụ cột của chủ nghĩa dân tộc Albania, đặc biệt là bởi vì nó có thể cung cấp một số bằng chứng về sự hiện diện liên tục của người Albania cả tại Kosovo và ở miền nam Albania, tức là các khu vực xung đột sắc tộc giữa người Albania, người SerbiaSerb và người Hy Lạp.<ref>Stephanie Schwandner-Sievers, Bernd Jürgen Fischer, ''Albanian Identities: Myth and History'', Đại học Indiana Press, 2002, ISBN 978-0-253-34189-1, p. 118.</ref> Dưới thời chính quyền Enver Hoxha, một chủ nghĩa nhân chủng học bản địa<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> đã được thúc đẩy và các nhà nhân chủng học<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> đã cố gắng để chứng minh rằng người Albania khác biệt so với bất kỳ dân tộc Ấn-Âu nào khác, một thuyết mà nay đã bị bác bỏ.<ref>Belledi et al. (2000) [http://www.nature.com/ejhg/journal/v8/n7/pdf/5200443a.pdf Maternal and paternal lineages in Albania and the genetic structure of Indo-European populations]</ref> Những nhà khảo cổ học Albania thời cộng sản đã tuyên bố rằng<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> các [[thành bang]], vị thần, tư tưởng, văn hóa và các nhân vật nổi bật của [[Hy Lạp cổ đại]] hoàn toàn là người Illyria (ví dụ như [[Pyrros của Ipiros]]<ref>Stephanie Schwandner-Sievers, Bernd Jürgen Fischer, Albanian Identities: Myth and History, Đại học Indiana Press, 2002, ISBN 978-0-253-34189-1, page 92.</ref> và vùng [[Epirus]]<ref>Epirus Vetus: The Archaeology of a Late Antique Province (Duckworth Archaeology) by William Bowden,2003,ISBN 0-7156-3116-0, page 32</ref>).
 
Họ tuyên bố rằng người Illyria là dân tộc cổ xưa nhất<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/><ref>The Balkans – a post-communist history by Robert Bideleux & Ian Jeffries, Routledge, 2007, ISBN 0-415-22962-6, page 23, "they thus claim to be the oldest indigenous people of the western Balkans".</ref> tại [[Balkan]] và đã mở rộng đáng kể thời kỳ của [[tiếng Illyria]].<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/><ref>The Balkans – a post-communist history by Robert Bideleux & Ian Jeffries, Routledge, 2007, ISBN 0-415-22962-6, page 26.</ref> Điều này vẫn tiếp tục tại Albania thời hậu cộng sản<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> và truyền bá sang Kosovo.<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/><ref>The Balkans – a post-communist history by Robert Bideleux & Ian Jeffries, Routledge, 2007, ISBN 0-415-22962-6, page 513.</ref> Các thuyết dân tộc chủ nghĩa này vẫn còn lại hầu như nguyên vẹn cho đến ngày nay.<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/>
272.454

lần sửa đổi