Khác biệt giữa các bản “Flavius Aetius”

không có tóm lược sửa đổi
n (sửa chính tả 3, replaced: Thượng Đế → Thượng đế (2), Châu Phi → châu Phi using AWB)
{{Tiểu sử quân nhân
|tên= Flavius Aetius
|hình= [[Tập tin:Diptych Aetius.jpg|300px|]]
|chú thích hình= Hình có lẽ là của Flavius Aetius
|ngày sinh= khoảng năm 391
|ngày mất= 21 tháng 9, 454
|nơi sinh= [[Silistra|Durostorum]]
|nơi mất= [[Ravenna]]
|biệt danh= [[Người La Mã cuối cùng]]
|phục vụ= [[Đế quốc Tây La Mã]]
|thuộc=
|năm phục vụ= 405-454
|cấp bậc= [[Magister militum]]
|đơn vị= [[Late Roman army|Roman army]]
|chỉ huy= Tribunis Partis Militaris <br/> Cura Palatii <br/> Magister Militum per Gallias <br/> Comes et Magister Utriusque Militiae (Junior) <br/> Comes et Magister Utriusque Militiae (Senior) <br/> Magnificus vir Parens Patriciusque Noster <br/> [[Quan chấp chính|Consul]]
|tham chiến= [[Siege of Arelate (426)]] <br/> [[Frankish War of 428]] <br/> [[Norican Campaign of 430]] <br/>[[Siege of Arelate (431)]] <br/> [[Frankish War of 432]] <br/> [[Battle of Ravenna (432)|Battle of Rimini]] <br/> [[Visigothic War of 436]] <br/> [[Burgundian Revolt of 435]] <br/> [[Battle of Narbonne (436)|Siege of Narbona (436)]] <br/> [[Sack of Worms (436)]] <br/> [[Battle of Mons Colubrarius]] <br/> [[Battle of Vicus Helena]] <br/> [[Trận Châlons]] <br/> [[Invasion of Italy (452)]] <br/> [[Spanish Campaign of 453]]
|khen thưởng=
|gia đình=
|công việc khác=
|chữ ký=
}}
'''Flavius Aetius''', hoặc đơn giản là '''Aëtius''' (khoảng [[396]]-[[454]]), ''Quận công kiêm quý tộc'' ("[[dux]] et [[patrikios|patricius]]"), là danh tướng [[Đế quốc La Mã|La Mã]] vào thời kỳ cuối của [[Đế quốc Tây La Mã|Đế chế Tây La Mã]]. Do thưở nhỏ ông là con tin dưới trướng vua [[Alaric I]] [[goth|người Goth]] và vua [[Rugalia]] người Hung, ông được học hỏi nhiều về binh cách. Đầu tiên, ông là tướng dưới quyền của ông vua cướp ngôi [[Joannes]], sau đó ông theo về [[Hoàng đế]] [[Valentinianus III]].<ref name="Ermatinger7576">James William Ermatinger, ''The decline and fall of the Roman Empire'', các trang 75-76.</ref> Ông là một chỉ huy [[quân sự]] tài năng và là một trong những người có thế lực nhất ảnh hưởng đến Đế chế trong suốt hai thập kỷ ([[433]]-[[454]]). Trong thời gian đó ông chẳng khác gì một vị [[vua]] không ngai của Đế quốc Tây La Mã. Điều đó không những nhờ tài điều binh khiển tướng kiệt xuất của ông mà còn nhờ tài [[ngoại giao]] của ông nữa.<ref>Stanley Sandler, ''Ground warfare: an international encyclopedia'', Tập 1, trang 8</ref> Với tư cách là người cầm đầu ba quân, ông đối phó với những cuộc tấn công của các [[Người Rợ|rợ]] vào Đế quốc khi đó. Nổi bật hơn cả là sự kiện ông tập hợp và chỉ huy một đội quân bao gồm các chiến binh La Mã và rợ đánh tan tác quân tinh nhuệ Hung của [[Attila]] trong [[Trận Châlons|Trận Chalons]] vào năm [[451]], kết thúc cuộc xâm lược nổi tiếng của [[người Hung]] vào Đế chế Tây La Mã.