Khác biệt giữa các bản “Cassius Dio”

AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:15.4448834 using AWB
n (thêm thể loại, replaced: , → , using AWB)
(AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:15.4448834 using AWB)
| notableworks = ''Sử La Mã''
}}
'''Cassius Dio''' hay '''Dio Cassius'''{{refn|group=note|Còn được gọi là ''Dion Kassios Kokkeianos'' ({{lang-grc|Δίων Κάσσιος Κοκκηϊανός|links=no}}),<ref>[http://penelope.uchicago.edu/Thayer/E/Roman/Texts/Cassius_Dio/Introduction*.html Prof. Cary's Introduction at LacusCurtius]</ref> '''Cassius Lucius Dio''' hay '''Cassius Claudius Dio''';<ref>{{cite|author=Gowing, Alain|url=http://www.jstor.org/stable/269480|title=Dio's Name|journal=Classical Philology|volume=85|issue=1|date=January 1990|page=49–54}}</ref> đã khẳng định có tên riêng ''{{lang|la|[[cognomen]]}}'' (biệt danh) '''Cocceianus'''<ref>Dio's name: ''[[L'Année épigraphique]]'' 1971, 430 = Κλ΄ Κάσσιος Δίων. ''Roman Military Diplomas'', Roxan, 133 = ''L. Cassius Dio''.</ref>{{refn|group=note|Alain Gowing, từng biên tập tác phẩm của Cassius Dio, lập luận rằng bằng chứng dành cho ''Cocceianus'' là chưa đủ, và đổ lỗi cho sự nhầm lẫn của người Đông La Mã với [[Dio Chrysostom]], mà Pliny đã chỉ rõ cái tên Cocceianus; ông đưa ra ''praenomen'' chưa được chứng nhận trước đây của ''Claudius''.}}}} ({{IPAc-en|ˈ|k|æ|ʃ|ə|s|_|ˈ|d|iː|oʊ}}; {{circa|[[155]]–[[235]]}}){{refn|group=note|Theo một số học giả, chẳng hạn như Millar (Millar, F., ''A study of Cassius Dio'', Oxford 1966, p. 13), ông được sinh ra sau đó vào năm 163/164<ref>{{citechú bookthích sách | last =Millar | first =Fergus | authorlink =Fergus Millar | coauthors = | title =Study of Cassius Dio | publisher =[[Oxford University Press]] | year =1964 | pages =250 | isbn =0-19-814336-2}}</ref>}} là chính khách và nhà sử học La Mã gốc Hy Lạp. Ông đã xuất bản 80 tập của bộ sử về thời [[La Mã cổ đại]], bắt đầu từ khi [[Aeneas]] đặt chân lên đất [[Ý]]. Các tập sử liệu này đã cung cấp nguồn tư liệu tiếp theo về sự kiện [[sáng lập thành Roma]] (753 TCN), [[Cộng hòa La Mã|nền Cộng hòa hình thành]] (509 TCN), và [[Lịch sử Đế quốc La Mã|Đế chế khai sinh]] (31 TCN), cho đến năm [[229]]. Được viết bằng tiếng Hy Lạp cổ trong hơn 22 năm, Tác phẩm của Dio gói gọn khoảng 1.000 năm lịch sử. Nhiều cuốn trong số 80 quyển thuộc bộ sử của ông vẫn tồn tại đến nay tuy chỉ còn lại từng đoạn rời rạc, giúp đưa ra một góc nhìn chi tiết về lịch sử La Mã cho các học giả hiện đại tham khảo.
 
==Tiểu sử==
Dio là con trai của [[Cassius Apronianus]], [[Nghị viên La Mã|Nguyên lão nghị viên]], và ông được sinh ra và lớn lên tại [[Nicaea]] ở vùng [[Bithynia]]. Theo truyền thuyết [[Người Đông La Mã gốc Hy Lạp|Đông La Mã]] cho rằng mẹ của Dio chính là con gái hoặc em gái của nhà hùng biện và triết gia Hy Lạp [[Dio Chrysostom]]; tuy vậy, mối quan hệ này vẫn còn là điều gây tranh cãi. Lucius thường được nhận diện như là ''[[praenomen]]'' của Dio, nhưng trong một bi ký [[Makedonia (tỉnh La Mã)|Makedonia]], xuất bản vào năm 1970, để lộ ra hàng chữ viết tắt, "Cl.", có lẽ là Claudius.{{refn|group=note|Gowing chấp nhận nó; tuy vậy Claudius thường là một ''[[Quy ước đặt tên La Mã|nomen]]''.}} Dù cho Dio là một [[công dân La Mã]], ông lại viết bằng [[tiếng Hy Lạp]]. Dio luôn luôn duy trì tình cảm dành cho quê hương thân yêu Nicaea, gọi đó là "nhà của mình".
 
Hồi trẻ Dio từng là một thành viên của [[Công chức|công sở]]. Bản thân là nguyên lão nghị viên<ref>{{Citechú bookthích sách|title=The Reign of Augustus|last=Carter|first=John|publisher=Penguin Books|year=1987|isbn=9780140444483|location=London|pages=1}}</ref> dưới thời [[Commodus]] và thống đốc tỉnh [[İzmir|Smyrna]] từ sau cái chết của [[Septimius Severus]]; ông trở thành quyền chấp chính quan vào khoảng năm [[205]]. Dio còn là [[Thái thú]] ở [[Châu Phi (tỉnh La Mã)|Châu Phi]] và [[Pannonia]]. [[Severus Alexander]] cực kỳ tôn kính Dio nên đã tái bổ nhiệm ông vào chức quan chấp chính, dù bản tính châm chọc của ông đã làm đội [[Cận vệ của Hoàng đế La Mã|Cấm vệ quân]] nổi giận, khiến ông suýt nữa phải bỏ mạng nếu không nhờ hoàng đế can thiệp. Sau khi hết nhiệm kỳ chấp chính, vào những năm cuối đời, Dio quyết định trở về quê hương của mình và sống tại đây cho tới khi mất.
 
Dio chính là ông nội hoặc ông cố của [[Cassius Dio (quan chấp chính 291)|Cassius Dio]], [[quan chấp chính La Mã]] vào năm [[291]].<ref>Martindale, J. R.; Jones, A. H. M, ''The Prosopography of the Later Roman Empire'', Vol. I AD 260-395, Cambridge University Press (1971), pg. 253</ref>
 
==Văn phong==
Dio đã cố gắng phỏng theo bút pháp của [[Thucydides]]. Văn phong của Dio có vẻ như không có những sai sót nào làm ảnh hưởng đến nguyên văn, dù đa phần bộ sử đều tràn ngập kiểu cách [[tiếng Latinh]]. Tác phẩm của Dio đã được củng cố bằng hàng loạt tình cảnh cá nhân mà ông có thể quan sát các sự kiện quan trọng của [[Đế quốc La Mã|Đế chế]] ở ngôi thứ nhất, hoặc tiếp xúc trực tiếp với các nhân vật chủ chốt có liên quan.<ref>{{citechú bookthích sách| last =Peck | first =Harry Thurston | authorlink =Harry Thurston Peck | title =Harper's Dictionary of Classical Literature and Antiquities | publisher =Harper & Brothers | year =1897 | pages =1687 | id =ASIN B000K28KCI }}</ref>
 
==Chú thích==
{{reflisttham khảo|group=note}}
 
==Tham khảo==
{{Reflisttham khảo|2}}
 
==Liên kết ngoài==
[[Thể loại:Cassii]]
[[Thể loại:Người Nicaea]]
[[Thể loại:Chấp chính quan của Đế quốc La Mã]]