Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Thiên hoàng Genshō”

không có tóm lược sửa đổi
(AlphamaEditor, sửa liên kết chưa định dạng, thêm thể loại, Executed time: 00:00:15.4228821 using AWB)
Không có tóm lược sửa đổi
Năm 717 (niên hiệu ''Yōrō'' nguyên niên của Thiên hoàng), Genshō lệnh cho người cháu là [[Fujiwara no Fuhito&usg=ALkJrhj0wQ4brZL0f65srEUdoKBjAIyrjQ|Fujiwara no Fuhito]] dựa vào nguyên bản luật Taihō (701) biên soạn bộ luật mới, lấy tên là ''Luật Yōrō''. Về cơ bản, bộ luật này có 10 tập (hay 10 chương<ref>{{chú thích web | url = https://books.google.com.vn/books?id=p2QnPijAEmEC&pg=PA1058&lpg=PA1058&dq=Yoro-Ritsuryo&source=bl&ots=gZPznA8ooZ&sig=MvZFqSLW-hAEB00n82PMGNfW6Ss&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwjP0_CVs8_PAhXCm5QKHWplAuUQ6AEIOjAD#v=onepage&q=Yoro-Ritsuryo&f=false | tiêu đề = Japan Encyclopedia | author = | ngày = | ngày truy cập = 12 tháng 10 năm 2016 | nơi xuất bản = Google Books | ngôn ngữ = }}</ref> mục) và nội dung không khác gì bộ luật năm 701<ref>[[George Bailey Sansom&usg=ALkJrhiGpoD0ThUztZnI9iOmN2 N7CCUpw|Sansom, George Bailey]] (1932). "Early Japanese Law and Administration" . Transactions of the Asiatic Society of Japan (Second series) . 9: 67–110.</ref>. Theo các nhà nghiên cứu luật pháp, bộ luật này bị manh mún<ref>Ooms, Herman (2013), "Translating the Corpus of Ancient Japanese Law". Monumenta Nipponica. 68.1: 69–77. [[Digital object identifier&usg=ALkJrhj62uKZUtHb9HBQncXHUKfJXRU-WQ|doi]]:10.1353/mni.2013.0021.</ref> về nội dung, một số phần về quy chế cửa hàng khi buôn bán (倉庫 ''Soko-Ryo''), quy chế về dịch vụ y tế (医疾 ''ishitsu-Ryo'') lại không được nêu trong bộ luật này. Trong luật Yoro chỉ có luật dân sự (được soạn năm 955<ref>Asao, Naohiro (1976), 岩波講座日本歴史 (Iwanami kōza Nihon rekishi) (snippet) , 3, Naoki Kōjirō, 岩波書店, p. 3</ref>, in thành 10 tập) là hoàn chỉnh<ref>Smith, Robert J. (2004) [1963], "Stability in Japanese kinship terminology: the historical evidence" , Japanese Culture: Its Development and Characteristics, Viking Fund Publications in Anthropology, Routledge, 34</ref>, riêng phần luật hình sự thì không có - mãi đến đầu thế kỷ XIX mới được nhà luật học Ishihara Masaaki (石原正明) (1760-1821) khôi phục lại được, in thành 8 tập.
 
Tháng 5/720<ref>Thời gian công bố bộ ''Nihon Shoki'' được ghi chép từ bộ ''Shoku Nihongi,'' được công bố năm 797. Sách này viết: "先是一品舍人親王奉勅修日本紀。至是功成奏上。紀卅卷系圖一卷" (nghĩa là ‘’Tiên thị nhất phẩm Xá nhân Thân vương phụng sắc tu Nhật Bản kỷ. Chí thị công thành tấu thượng. Kỷ tạp quyển hệ đồ nhất quyển). Nghĩa là "Cho đến lúc này, Thân vương Toneri đang biên xoạn ''Nihongi'' theo thánh chỉ; ông đã hoàn thành, nộp 30 quyển sử và một quyển phả hệ ". Quyển về phả hệ đã bị thất lạc. Xem thêm trong: Bender, Ross (2009), "Performative Loci of Shoku Nihongi Edicts, 749–770" , ''Journal of Oral Tradition'' , 24(1), pp. 249–268</ref> (niên hiệu ''Yōrō'' thứ ba của Thiên hoàng), bộ sách sử [[Nihonshoki&usg=ALkJrhiLEc87IrUJIxX6tlg24muEMVaImw|''Nihonshoki'']] (Nhật Bản thư kỷ) do Hoàng tử Toneri (chú ruột của Thiên hoàng Genshō), có trợ giúp của Ō no Yasumaro đã hoàn thành và được nhà vua cho ban hành trong cả nước. ''Nihon Shoki'' có 30 chương, mở đầu với một loạt [[thần thoại]], nhưng tiếp tục ghi chép cho tới các sự kiện thuộc thế kỷ VIII. Bộ sách này được cho là đã ghi lại chính xác về các triều đại của [[Thiên hoàng Tenji]], [[Thiên hoàng TemmuTenmu]]  và nữ [[Thiên hoàng Jitō]]. ''Nihon Shoki'' tập trung ghi lại công đức của các đấng minh quân cũng như lỗi lầm của hôn quân. Bộ sách kể lại các phần về thời huyền sử cũng như quan hệ ngoại giao<ref>Sakamoto, Tarō (1991). The Six National Histories of Japan: Rikkokushi, John S. Brownlee, tr. 40 - 41</ref> với các nước khác.
 
Tháng 3/724, Thiên hoàng Genshō thoái vị và nhường ngôi cho cháu trai - tức [[Thiên hoàng Shōmu]]. Bà sống quãng đời cuối cùng trong hoàng cung kinh đô Nara. Gensho không bao giờ kết hôn và không có con. Bà qua đời ngày 22/5/748 ở tuổi 65.