Khác biệt giữa các bản “Adenozin triphotphat”

n (AlphamaEditor, thêm thể loại, Excuted time: 00:00:28.4258423)
Quá trình ngược lại tổng hợp ATP từ ADP và Pi cũng phải cung cấp cho ADP một lượng năng lượng 12Kcal/mol.
 
== Tính [[chất]] vật lý và hóa học ==
Phân tử ATP gồm [[adenosine]] - tạo ra từ một vòng [[adenine]] và một đường [[ribose]] - và ba nhóm [[phosphate]] (nên gọi là triphosphate). Các nhóm phosphat, bắt đầu từ nhóm gần nhất với nhóm ribose, được gọi lần lượt là alpha (α), beta (β), và gamma (γ) phosphat. ATP tan tốt trong nước và khá ổn định trong dung dịch có độ pH từ 6.8 đến 7.4, nhưng nhanh chóng bị [[thủy phân]] ở pH quá cao hoặc quá thấp. Do đó, ATP được dự trữ tốt nhất dưới dạng muối khan.
Phân tử ATP không ổn định trong nước [[Dung dịch đệm|không đệm]] và bị thủy phân thành [[adenosin diphosphate|ADP]] và phosphate. Lý do là liên kết giữa các phần tử phosphate còn lại trong ATP yếu hơn liên kết hydro giữa [[adenosin diphosphate|ADP]] và nước. Vì vậy, nếu ATP và [[adenosine diphosphate|ADP]] ở trong [[cân bằng hóa học]] trong nước, gần như toàn bộ ATP sẽ dần chuyển thành [[adenosine diphosphate|ADP]]. Một hệ thống hóa học ở xa khỏi cân bằng có chứa [[năng lượng tự do Gibbs]], và có khả năng sinh [[công (nhiệt động học)|công]]. Tế bào sống giữ tỉ lệ ATP trên [[adenosine diphosphate|ADP]] ở mức 10<sup>10</sup> lần mức cân bằng, với nồng độ ATP cao gấp một nghìn lần nồng độ [[adenosine diphosphate|ADP]]. Ở mức xa cân bằng như trên, khi bị thủy phân ATP giải phóng một lượng lớn năng lượng.
Người dùng vô danh