Khác biệt giữa các bản “Tuồng”

n (sửa chính tả 3, replaced: ( → ( (17), Giám Đốc → Giám đốc (2), Nhà Hát → Nhà hát using AWB)
Hầu hết các học giả nghiên cứu kinh kịch [[Trung Quốc]] đều xác nhận [[kinh kịch]] là loại [[kịch]] của [[nhà Thanh|Thanh triều]] tại kinh thành [[Bắc Kinh]], tức "Bắc Kinh kịch nghệ". Còn hát bộ của Việt Nam là hát diễn tương tự kinh kịch nhưng theo "Kinh điển kịch lệ". "Bộ" đây có nghĩa là diễn xuất của nghệ sĩ đều phải phân đúng từng ''bộ diễn''. Vì vậy mới gọi là "hát bộ", "diễn bộ", "ra bộ". Gọi là "hát bội" bởi trong nghệ thuật hóa trang, đào kép phải đeo, phải giắt (bội) những cờ phướn, lông công, lông trĩ... lên người. Theo nhà nghiên cứu [[Vũ Khắc Khoan]], cả hai tên gọi ấy đều đúng.<ref>Phần giải thích hát bội, căn cứ theo Vũ Đức Sao Biển, tr. 92.</ref>
 
Lối hát tuồng du nhập vào Việt Nam vào thời điểm nào chưa được minh xác nhưng có truyền thuyết ghi rằng vào thời [[Nhà Tiền Lê|Tiền Lê]] năm 1005, một kép hát [[Người Trung Quốc|người Hoa]] tên là [[Liêu Thủ Tâm]] đến [[Hoa Lư]] và trình bày lối hát xướng thịnh hành bên [[nhà Tống]] và được vua [[Lê Long Đĩnh]] thâu dụng, bổ là phường trưởng để dạy cung nữ ca hát trong cung.<ref name="a">"Hát bội". ''Thế giới Tự do'' Tập Tập X Số 8. Sài Gòn: Sở Thông tin Hoa Kỳ, 1961. tr 25</ref>
 
Sang thời [[nhà Trần]], Hưng Đạo Đại vương [[Trần Hưng Đạo|Trần Quốc Tuấn]] bắt được một tên quân [[nhà Nguyên]] tên là [[Lý Nguyên Cát]] vốn là kép hát. Vương tha tội chết cho Cát và sai dạy lối hát đó cho binh sĩ. Cát cho diễn vở ''Vương mẫu hiến đào'' để vua ngự lãm cùng các triều thần xem. Ai cũng cho là hay.<ref name="a" />
 
Tuy nhiên người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam là [[Đào Duy Từ]] ([[1572]]-[[1634]]). Ở [[Miền Trung (Việt Nam)|Miền Trung]] Việt Nam trở ra gọi Tuồng do chữ "Liên Trường" là kéo dài liên tiếp thành một vở tuồng tích có khởi đầu truyện, có hồi kết cuộc, phân biệt với các ca diễn từng bài ngắn, từng trích đoạn. Từ "liên trường" do ngôn ngữ địa phương mà thành "luông tuồng", "luôn tuồng"...
 
Sang [[thế kỷ 20]] với sự ra đời của [[cải lương]] và [[kịch nói]] thu hút nhiều khán giả, nghệ thuật tuồng suy yếu nhiều tuy có cố gắng phục hưng với loại ''tuồng xuân nữ'', tức là tuồng diễn theo đề tài xã hội tân thời và hát theo điệu "xuân nữ". Loại tuồng này pha phong cách [[cải lương]], đánh võ Tàu... Dù vậy giới hâm mộ tuồng càng ngày càng ít.<ref name="b">Theo Hoàng Chương, "Tóm tắt về hành trình sân khấu Việt Nam" in trong ''Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995'', Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, [[Hà Nội]], 1989.</ref>.
 
Ba trường phái<ref>Trần Văn Khê. tr 315</ref> lớn trong hát bội là:
== Diễn xuất ==
[[Tập tin:Hát cúng đình.jpg|nhỏ|250px|phải|Hát tuồng trong [[lễ Kỳ yên]] tại [[đình Mỹ Phước]] ([[Long Xuyên]]) năm [[2010]]]]
Lối diễn xuất thường được khuếch đại hơn sự thật ngoài đời để khán giả dễ cảm nhận. Các động tác càng nhỏ càng nhanh, khi lên sân khấu càng cần tăng cường điệu thì khán giả mới kịp nhận thấy. Kiểu cách đi đứng còn dùng để biểu lộ cái "tâm" của nhân vật thiện, ác. Nhất nhất đều phân thành từng bộ riêng, không thể diễn bộ "Trung" cho vai đứa "Hèn" hay đứa "Nịnh". Thậm chí lên [[ngựa]] xuống ngựa còn phân biệt Bộ của trung tướng khác bộ dạng nịnh thần. Mọi động tác đã thành thông lệ hay ước lệ. Nhất là vào thời trước khi kỹ thuật âm thanh và ánh sáng chưa đáp ứng được cho nghệ thuật trình diễn, hình ảnh diễn xuất chưa thể kéo lại nhìn gần, không thể "trung cảnh", "cận cảnh", làm tăng cường độ các động tác giúp khán giả xem được toàn cảnh, dù ngồi xa hay gần [[chiếu]] diễn (sân khấu) đều nhìn thấy.
Kiểu cách đi đứng còn dùng để biểu lộ cái "tâm" của nhân vật thiện, ác. Nhất nhất đều phân thành từng bộ riêng, không thể diễn bộ "Trung" cho vai đứa "Hèn" hay đứa "Nịnh". Thậm chí lên [[ngựa]] xuống ngựa còn phân biệt Bộ của trung tướng khác bộ dạng nịnh thần. Mọi động tác đã thành thông lệ hay ước lệ. Nhất là vào thời trước khi kỹ thuật âm thanh và ánh sáng chưa đáp ứng được cho nghệ thuật trình diễn, hình ảnh diễn xuất chưa thể kéo lại nhìn gần, không thể "trung cảnh", "cận cảnh", làm tăng cường độ các động tác giúp khán giả xem được toàn cảnh, dù ngồi xa hay gần [[chiếu]] diễn (sân khấu) đều nhìn thấy.
 
Lối múa, đi và đứng có những động tác cách điệu, trong nghề gọi là ''bê'', ''xiên'', ''lỉa'' và ''lăn''.<ref>Trần Văn Khê. tr 304.</ref>
 
== Dàn nhạc ==
Dàn nhạc dùng trong hát bội gồm có những nhạc cụ như: [[trống chiến]], [[đồng la]], kèn, [[đờn cò]] và có khi [[Sáo (nhạc cụ)|ống sáo]]. Dàn nhạc được đặt bên tay phải sân khấu (từ trong nhìn ra). Tay phải ứng với cửa "sinh" trong khi bên trái là cửa "tử".<ref>Trần Văn Khê. tr 302.</ref>
 
Nếu là đám hát do tư nhân mướn để mua vui, khao vọng thì lại có một cỗ trống nhỏ gọi là ''trốnng lèo'' dành riêng cho các thân hào uy tín đến xem hát mà đánh chấm những câu hát hay. Người đánh trống lèo cũng phải đem theo tiền riêng để thưởng diễn viên.<ref name="Hà"/>
 
==Tưởng thưởng==
Ở miền Trung cho đến [[thập niên 1950]] khi đám hát diễn thì người mướn gánh hát đến diễn, dù là tư nhân hay đền miễumiếu, sẽ có sẵn những thẻ thưởng. Thẻ làm bằng [[tre]] gọt dẹp thành ba cỡ: lớn (dài ba gang tay, rộng bằng bề ngang hai ngón tay) giá trị một [[Quan (tiền)|quan]], nhỡ (dài hai gang, rộng một ngón rưỡi) giá trị một [[Tiền (đơn vị tiền cổ)|tiền]], và nhỏ (dài gang rưỡi, rộng bề ngang một ngón) giá trị 30 đồng, tức nửa tiền.<ref name="Hà">Hà Ngại. ''Khúc tiêu đồng, hồi ký của một vị quan triều Nguyễn''. TP HCM: Nhà xuất bản Trẻ, 2014. Tr 73-8</ref>
 
Khi đến những màn diễn khéo, giọng hát hay thì chủ nhà ném thẻ lên tấm chiếu trước sân khấu, tiếng thẻ tre nghe lách cách vui tai. Gánh hát sau đó gom thẻ, tính ra giá trị tiền để lãnh tiền thưởng.<ref name="Hà"/>
== Những diễn viên Tuồng nổi tiếng ==
# '''CÁC NGHỆ SĨ NHÂN DÂN'''
*Nghệ sĩ nhân dân [[Nguyễn Ngọc Phương]] (Nguyên ThúThứ trưởng Bộ VHTTDL, Nguyên Cục trưởng Cục NTBD, Nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam)
*Nghệ sĩ nhân dân Lê Tiến Thọ (Nguyên ThúThứ trưởng Bộ VHTTDL, Nguyên Cục trưởng Cục NTBD, Nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam, Chủ tịch Hội NSSK Việt Nam)
*Nghệ sĩ nhân dân Mẫn Thu (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
*Nghệ sĩ nhân dân [[Đàm Liên]] (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
*Nghệ sĩ nhân dân Hoàng Khiềm (Nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam)
*Nghệ sĩ Nhân dân Minh Ngọc (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
*Nghệ sĩ nhân dân Xuân Quý (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
*[[Nghệ sĩ nhân dân]] [[Xuân Hội]] ([[Nhà nhát tuồng Đào Tấn]], Bình Định)
*[[Nghệ sĩ nhân dân]] [[Phương Thảo]] ([[Nhà nhát tuồng Đào Tấn]], Bình Định)
*
* '''2. CÁC NGHỆ SĨ ƯU TÚ'''
** NSUT Văn Thuỷ (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
** NSUT Hải Vân (Nhà hát Tuồng Việt Nam)NSUT Bích Tần (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
** NSUT Lê trầnTrần Vinh (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
** NSUT Kiều Oanh (Nhà hát Tuồng Việt Nam)
** NSUT Đức Lợi (Nhà hát Tuồng Việt Nam)