Khác biệt giữa các bản “Duyên Hà”

(→‎Tham khảo: Làng Tranh Khúc)
Đại Lan sớm có truyền thống học hành. Vào thời [[Nhà Lê sơ|Lê Sơ]] (1427 - 1526), làng đã có 2 vị đỗ đại khoa<ref name="DH1"/>:
 
- [[Nguyễn Như Đổ]] (1424 - 1505, có tài liệu chép ông thọ 103 tuổi): tên tự là Mạnh An, hiệu Khiêm Trai, đỗ Hội nguyên, Bảng nhãn khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo đời [[Lê Thái Tông]] (1442) khi mới 18 tuổi, là một trong 2 vị đại khoa trẻ nhất trong 321 vị khoa bảng của Thăng Long - Hà Nội. Ông làm quan đến Lại bộ Thượng thư, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, hàm Thiếu bảo, được về trí sĩ. Điều đặc biệt nhất, ông đã ba lần được cử đi sứ sang nhà Minh (vào các năm 1443, 1450 và 1459). Ông còn để lại 6 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Ông là niềm tự hào của dòng họ Nguyễn ở Đại Lan vì tạo lập truyền thống hiếu học cho con cháu cũng như cho dân làng Đại Lan và vùng lân cận<ref name="DH1"/>.
 
- [[Nguyễn Như Huân]] (1422 - ?), là cháu ruột Nguyễn Như Đổ, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Dần, niên hiệu Diên Ninh, đời Lê Nhân Tông (1458), làm quan đến Tham chính<ref name="DH1"/>.
 
Tuy nhiên, sự phát đạt về mặt học hành của người Đại Lan chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn. Nguyên nhân là do sông Hồng luôn luôn đổi dòng, đất bãi bồi bị lở dần nên một phần cư dân phải di sang bên đối ngạn để sống. Vì thế, làng luôn phải chuyển dịch đơn vị hành chính từ huyện Văn Giang sang huyện Thanh Trì. Ngoài việc cả cộng đồng phải rời làng còn có những cuộc chuyển cư lẻ tẻ của các gia đình, dòng họ, đến những làng quê khác để có cuộc sống ổn định hơn. Dòng họ của Nguyễn Như Đổ về sau cũng chuyển đến làng Tử Dương thuộc huyện [[Thường Tín]] ngày nay. Việc luôn phải đối phó với nước lụt làm cho cuộc sống không ổn định, ảnh hưởng lớn đến sự học. Đình chùa của làng chịu đựng nhiều tác động của lũ lụt và chiến tranh nên hiện rất sơ sài<ref name="DH1"/>.
Người dùng vô danh