Khác biệt giữa các bản “Tống Khâm Tông”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Chống Kim lần thứ nhất: sửa chính tả 3, replaced: thứ 5 của → thứ năm của using AWB)
{{Thông tin nhân vật hoàng gia
| tên = Tống Khâm Tông
| tước vị = Hoàng đếVua Trung HoaQuốc
| thêm = china
| hình = File-宋欽宗-250px.jpg
| hoàng tộc = [[Nhà Tống]]
| kiểu hoàng tộc = Triều đại
| tên đầy đủ = Triệu Đản (趙亶)<br>Triệu Huyên (趙烜)<ref>Đổi thành Huyên tháng 2 năm 1102.</ref><br>Triệu Hoàn (趙桓)<ref>Đổi thành Hoàn tháng 12 năm 1102. Tên này là tên kịkỵ húy khi lên ngôi năm 1126.</ref>
| kiểu tên đầy đủ = Tên húy
| thông tin niên hiệu =
| niên hiệu = Tĩnh Khang
| thời gian của niên hiệu = 1126-1127
| miếu hiệu = [[Khâm Tông]] (欽宗)
| thụy hiệu = Cung Văn Thuận Đức Nhân Hiếu Hoàng đế<br />(恭文順德仁孝皇帝)
| tước hiệu =
| cha = [[Tống Huy Tông]]
| nghề nghiệp =
}}
'''Tống Khâm Tông''' (chữ Hán: 宋欽宗; [[23 tháng 5]], [[1100]] - [[1156]]), [[thụy hiệu]] đầy đủ '''Cung Văn Thuận Đức Nhân Hiếu hoàng đế''' (恭文順德仁孝皇帝), tên thật là '''Triệu Đản''' (赵亶), '''Triệu Huyên''' (赵烜) hay '''Triệu Hoàn''' (赵桓), là vị hoàng đếvua thứ 9 và cũng là cuối cùng của vương triều [[Bắc Tống]] trong [[lịch sử Trung Quốc]].
 
'''Tống Khâm Tông''' (chữ Hán: 宋欽宗; [[23 tháng 5]], [[1100]] - [[1156]]), [[thụy hiệu]] đầy đủ '''Cung Văn Thuận Đức Nhân Hiếu hoàng đế''' (恭文順德仁孝皇帝), tên thật là '''Triệu Đản''' (赵亶), '''Triệu Huyên''' (赵烜) hay '''Triệu Hoàn''' (赵桓), là vị hoàng đế thứ 9 và cũng là cuối cùng của vương triều [[Bắc Tống]] trong [[lịch sử Trung Quốc]].
 
Triệu Hoàn là con trai trưởng của [[Tống Huy Tông]] Triệu Cát với bà Vương hoàng hậu. Ông lên ngôi năm [[1126]] sau khi vua cha là [[Tống Huy Tông]] thoái vị vì sợ hãi lực lượng mạnh mẽ của [[nhà Kim]]. Khâm Tông lãnh đạo quân dân Tống đẩy lui quân Kim trong một thời gian ngắn, và loại bỏ các gian thần thời vua cha, làm trong sạch triều chính. Tuy nhiên vào cuối năm này, khi quân Kim đánh vào Biện lần thứ hai, quân Tống đã thất bại, hai vua cùng phần lớn hoàng tộc nhà Bắc Tống bị Kim bắt làm tù binh, chỉ có Khang vương Triệu Cấu là thoát được, về sau lập ra vương triều [[Nam Tống]].
Trong khi đó tại miền nam, em ông là Khang vương Triệu Cấu dưới sự ủng hộ của các đại thần đã lên ngôi hoàng đế vào ngày [[12 tháng 5]], tức là [[Tống Cao Tông|Cao Tông của Nam Tống]], diêu tôn Khâm Tông là Hiếu Từ Uyên Thánh hoàng đế<ref>''[[Tống sử]]'', [[:zh:s:宋史/卷024|quyển 24]]</ref>. Ngày [[4 tháng 6]] năm [[1135]], Hôn Đức công bệnh mất ở thành Ngũ Quốc<ref>''[[Tống sử]]'', [[:zh:s:宋史/卷022|quyển 22]]</ref>. Tháng 2 ÂL năm [[1141]], khi Tống - Kim xúc tiến nghị hòa, [[Kim Hi Tông]] hạ lệnh thăng Hôn Đức công làm Thiên Thủy quận vương, Trọng Hôn hầu làm Thiên Thủy quận công<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷124|quyển 124]]</ref>. Mùa xuân năm [[1142]], hai nước kí Thiệu Hưng hòa nghị, lấy Hoài Hà làm ranh giới, giang sơn triều Tống đến đó chỉ còn 15 lộ. Ngày [[1 tháng 5]] năm [[1142]], Kim cho mẹ Cao Tông là Vi thái hậu đem thi hài Huy Tông về nước an táng. Khi thái hậu khởi hành, Thiên Thủy quận công chạy theo xe, xin về nói hộ với Cao Tông để cho mình về, hứa chỉ cần ngôi Thái Ất cung sứ, không đòi hỏi gì hơn, thái hậu đồng ý<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷125|quyển 125]]</ref>. Tuy nhiên Cao Tông nghe việc này, tỏ ra không vui, và đến cuối đời Khâm Tông cũng không được về nước.
 
Theo quyển Đại Tống Tuyên Hòa di sự, tháng 6 ÂL năm [[1156]], vua Kim lúc đó là Hải Lăng vương [[Hoàn Nhan Lượng]] ép ông cùng vua Liêu cũ là [[Da Luật Diên Hi]] phải cưỡi ngựa. Thiên Thủy quận công thân thể vốn suy nhược, vừa lên ngựa thì không trụ nổi, bị ngã ngựa mà chết; còn Da Luật Diên Hi quen cưỡi ngựa, đến đó nhân cơ hội tìm đường bỏ trốn, liền bị kị binh Kim bắn chết. Năm [[1161]] tin tức này mới được báo cho triều đình [[Nam Tống]]<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷130|quyển 130]]</ref><ref>''[[Kim sử]]'', liệt truyện quyển 61: Hải Lăng sử Vương Toàn kích nộ Tống chủ, tương dĩ vi nam phạt chi danh dã. vị Cảnh San viết:"hồi  nhật, dĩ Toàn sở ngôn tấu văn". Toàn chí Tống, nhất như Hải Lăng chi ngôn để trách Tống chủ. Tống chủ vị Toàn viết:Văn công bắc phương danh gia, hà nãi như thị?" Toàn phục viết:"triệu hoàn kim dĩ tử hĩ". Tống chủ cự khởi phát ai nhi bãi</ref>. Triều đình Nam Tống làm lễ tang, truy miếu hiệu cho ông là Khâm Tông, [[thụy hiệu]] là ''Cung Văn Thuận Đức Nhân Hiếu hoàng đế'' (恭文順德仁孝皇帝).
 
Tuy nhiên di hài của Khâm Tông vẫn còn ở nước Kim. Sang thời [[Kim Thế Tông]] - [[Tống Hiếu Tông]]. Năm [[1171]], nhân việc Tống sứ sang, vua Kim hỏi về việc rước di thể về, Tống sứ xin về nước báo lại. Kim chờ thêm một thời gian, thấy Tống không có hồi âm, bèn cho táng Khâm Tông ở Củng, Lạc theo lễ quan nhất phẩm<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷142|quyển 142]]</ref>.
** [[Triệu Cẩn]] (赵谨), mẹ là Chu Thận Đức phi.
** [[Triệu Huấn]] (赵训), mẹ là Trịnh phu nhân.
** [[NhuCông Giachúa côngNhu chúaGia]] (柔嘉公主).
 
== Tham khảo ==
Người dùng vô danh