Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Đình Tứ”

* Tại đây, ông là cộng tác viên, người lãnh đạo tập thể khoa học quốc tế thuộc Phòng thí nghiệm Năng lượng cao (LVE) và là một trong những tác giả chính của hơn 50 công trình nghiên cứu khoa học trong [[thập niên 1960]].
* Năm 1961, khi vừa tròn 30 tuổi, Nguyễn Đình Tứ đã thay mặt nhóm phát minh, báo cáo kết quả phát minh tại diễn đàn Hội nghị khoa học quốc tế ở Tây Âu.
* Về nước, ông đã dành nhiều tâm lực cho việc hình thành ngành Năng lượng nguyên tử của đất nước và là người đặt nền móng cho ngành năng lượng nguyên tử<ref>http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/khoa-hoc/item/29988002-gs-nguyen-dinh-tu-nguoi-sang-lap-va-phat-trien-nganh-nang-luong-nguyen-tu-viet-nam.html</ref>. Sau 5 năm, từ một phòng nghiên cứu thuộc Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước do ông lãnh đạo, tháng 4/1976, Viện nghiên cứu hạt nhân [[Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia]]trực thuộc Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước được thành lập do ông làm Viện trưởng trong thời gian dài (1976 - 1993)<ref>http://www.vinatom.gov.vn/thong-tin-chung/lich-su-phat-trien.aspx</ref>.
* Ông từng là Phó Chủ tịch [[Hội Vật lý Việt Nam]] (1966-1985), Phó Hiệu trưởng Trường [[Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội|Đại học Tổng hợp Hà Nội]] (tháng 7, 1971 - tháng 3, 1976), Viện trưởng [[Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia]] (1976 - 1993)<ref>http://www.vinatom.gov.vn/thong-tin-chung/lich-su-phat-trien.aspx</ref>, là người đặt nền móng cho ngành năng lượng nguyên tử.
 
* Năm 1976 ông bắt đầu tham gia chính trường, giữ chức Thứ trưởng (tháng 4 - tháng 6, 1976) rồi Bộ trưởng [[Bộ Giáo dục và Đào tạo (Việt Nam)|Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp]] (tháng 6, 1976 - tháng 2, 1987), Chủ nhiệm [[Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội]], Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban [[Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Ban Khoa giáo Trung ương Đảng]].
Người dùng vô danh