Khác biệt giữa các bản “Thiên hoàng Go-Shirakawa”

Sau khi thoái vị, Go-Shirakawa lên làm Thượng hoàng và tiếp tục chính sách ''Viện chính'' của các Thượng hoàng tiền nhiệm. Do có công bảo vệ Thiên hoàng trong cuộc loạn Hōgen (1156), Taira no Kiyomori được Thượng hoàng ban thưởng và có ân sủng đặc biệt. Với chính sách thúc đẩy mậu dịch Nhật - Tống được kế thừa từ cha mình là [[Taira no Tadamori]], Taira Kiyomori được Thượng hoàng cho phép xây một bến đỗ cho tàu thuyền mang tên ''Owada no tomari'' (Đại Luân Điền bạc) ở Settsu (nay là thành phố Kobe), lại tìm cách bảo vệ an ninh trên biển nội địa Seto giúp thương nhân Tống có thể di chuyển vào tận vùng Kinai chung quanh kinh đô, làm cho việc trao đổi hàng hóa được dễ dàng.
 
Nhưng dòng họ Taira lại có tham vọng muốn chiếm lấy quyền lực của Hoàng gia nên giữa họ và Thượng hoàng có rạn nứt sâu sắc. Năm 1159 (niên hiệu ''Heiji nguyên niên'' của [[Thiên hoàng Nijō.|Thiên hoàng Nijō),]]), lợi dụng lúc [[Taira no Kiyomori]] đi vắng (ông ta đến vùng Kumano), phe nổi loạn do [[Minamoto no Yoshitomo]] và [[Fujiwara Nobuyori]] <nowiki/>tấn công cung đình, bắt giam Thiên hoàng và Thượng hoàng, tự phong chức tước. Nhưng ngay sau đó Taira Kiyomori biết tin, ông bí mật trở về cứu hai vua rồi tấn công nói cùng của phe nổi loạn vào đầu năm 1160<ref>Sansom, George (1958). A History of Japan to 1334. Stanford University Press. p. 256-258. <nowiki>ISBN 0804705232</nowiki> .    </ref>. Yoshitomo thua trận và bị một bộ hạ cũ ám sát trên đường bôn đào ở Iwari, con trai ông là Yoritomo bị lưu đày ở Izu<ref>Về sau, Yoritomo, [[Minamoto no Noriyori&usg=ALkJrhjgiKvTwgWVMz3YzidFx1SCfgOs5A|Noriyori]] và [[Minamoto no Yoshitsune&usg=ALkJrhgmFHdnC3fLZdffv6gzPWEOCrq2EQ|Yoshitsune]] được Thiên hoàng tha tội. Xem Sansom, George (1958). ''A History of Japan to 1334'' . Stanford University Press. p. 258-260. <nowiki>ISBN 0804705232</nowiki> .   </ref>. Trận binh biến này được gọi là ''Heiji no ran'' (Loạn năm Bình Trị, 1159 - 1160)
 
Năm 1169, Go-Shirakawa xuất gia và trở thành Pháp hoàng, lấy pháp danh là Gyōshin<ref>Keene, ''[https://translate.googleusercontent.com/translate_c?depth=1&hl=vi&prev=search&rurl=translate.google.com.vn&sl=en&u=https://books.google.com/books%3Fid%3D_DEwTJq3TbcC%26pg%3DPA616&usg=ALkJrhhYTKOdA_uHXPV4Aba9-0bbjHoSSw p.]'' ''[https://translate.googleusercontent.com/translate_c?depth=1&hl=vi&prev=search&rurl=translate.google.com.vn&sl=en&u=https://books.google.com/books%3Fid%3D_DEwTJq3TbcC%26pg%3DPA616&usg=ALkJrhhYTKOdA_uHXPV4Aba9-0bbjHoSSw 616.]'' , p. 616, tại [[Google Books&usg=ALkJrhh 79BVohb2 OgXFtUU-kYUtQATdQ|Google Sách]] ; Kitagawa, p. 783; Brown, p. 327.</ref>.
Sau trận chiến Dan no Ura, [[Minamoto no Yoshitsune]] theo Pháp hoàng và công khai chống lại anh trai mình, [[Minamoto no Yoritomo]]. Về sau, ông ta (Yoshitsune) bị phản bội và bị giết chết, đồng thời thành trì của cựu dòng họ quý tộc Fujiwara bị thủ tiêu trong cuộc chiến. Điều này đánh dấu sự biến mất khỏi vũ đài chính trị của họ Fujiwara, đưa dòng họ Minamoto lên cầm quyền. Để xóa bỏ các nghi kỵ vốn có giữa các dòng họ với Pháp hoàng, Go-Shirakawa và tộc trưởng [[họ Minamoto]] là [[Minamoto no Yoritomo]] hòa giải, ông cũng cho phép Yoritomo sau này có thể tìm thấy một tướng quân mới kế nhiệm.
 
Tháng 4/1192, Pháp hoàng Go-Shirakawa qua đời ở tuổi 66. Ông là cha của Thiên hoàng kế nhiệm: [[Thiên hoàng Nijō]], [[Thiên hoàng Takakura]]; ông nội của [[Thiên hoàng Rokujō.|Thiên hoàng Rokujō,]], [[Thiên hoàng Antoku]] và [[Thiên hoàng Go-Toba]].
 
=== Kugyō ===