Khác biệt giữa các bản “Đỗ Anh Vũ”

không có tóm lược sửa đổi
'''Đỗ Anh Vũ''' ([[chữ Hán]]: 杜英武, [[1113]] &ndash; [[20 tháng 1]], [[1159]]<ref name="DV4">[http://gralib.hcmuns.edu.vn/greenstonelib/library?e=d-000-00---0sachlich--00-0-0--0prompt-10---4------0-1l--1-vi-50---20-about---00031-001-1-0utfZz-8-00&a=d&c=sachlich&cl=CL1&d=HASH01ee20abb493d48e1ec1536f.3.4 Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 4]</ref>), thường gọi '''Việt quốc Lý Thái úy''' (越國李太尉), là một vị quanđại thần rất có quyền thế trong thời đại [[nhà Lý]] trongcủa [[lịch sử Việt Nam]]. Ông làm phụ chính dưới triều [[Lý Anh Tông]], vị [[hoàng đế]] thứ sáu của [[nhà Lý]]. Ông là một trong hai vị mỹ nam tử, vì vẻ ngoài tuấn tú hơn người, được nhắc đến bên cạnh Việt quốc công [[Lý Thường Kiệt]].
 
Ông là một vị đại thần gây nhiều tranh cãi, được nhắc đến bên cạnh Việt quốc công [[Lý Thường Kiệt]], không chỉ vì vai trò trong triều đình mà còn vì quan hệ cậu cháu với Lý Thường Kiệt. Tương truyền, ông có quan hệ với [[Linh Chiếu Thái hậu]], mẹ của Anh Tông, và việc này khiến cho cung đình nhà Lý xảy ra một cuộc nội loạn gây nhiều tổn hại trong chính quyền triều đình.
 
==Thân thế==
Theo [[Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam]], Đỗ Anh Vũ sinh năm [[1113]] ở [[Hồng Châu]] (nay thuộc [[Hải Dương]]). Theo văn bia trên bia mộ của Đỗ Anh Vũ tại làng Yên Lạc (tức [[Khoái Châu]], tỉnh [[Hưng Yên]])<ref>Tức văn bia ''"Cự Việt Quốc Thái Úy Lý Công Thạch Bi Minh Tự"''</ref>, Đỗ Anh Vũ có [[biểu tự]] là '''Quan Thế''' (冠世), tổ tiên bên ngoại là họ Quách ở [[Lũng Tây]], [[Trung Quốc]]. Cha của Đỗ Anh Vũ là [[Đỗ Tướng]] (杜相), gọi Thái úy [[Lý Thường Kiệt]] là cậu ruột. Đỗ Anh Vũ có một người chị (hoặc em) gái ruột tên là ''Quỳnh Anh'', về sau được gả cho quan Thị trung họ Phạm<ref name="vanbia">Văn bia "Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tính tự" (瞿越國太尉李公石碑銘并序 - ''Văn bia về Thái úy Lý công nước Cồ Việt'')</ref>; rất có thể đó chính là [[Chiêu Hiến hoàng hậu]] Đỗ thị, chính thất của [[Sùng Hiền hầu]] và là mẹ của hoàng đế [[Lý Thần Tông]].
Theo ''[[Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam]]'', Đỗ Anh Vũ sinh năm 1113 ở Hồng Châu (nay thuộc [[Hải Dương]]). Ông có chị gái Đỗ thị, là mẹ của hoàng đế [[Lý Thần Tông]], và một cháu gái kết hôn với hoàng đế [[Lý Anh Tông]]<ref name="bktt"/>.
 
Theo văn bia trên bia mộ của Đỗ Anh Vũ (niên đại phỏng đoán là 1159) tại làng Yên Lạc, (Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) thì Đỗ Anh Vũ, tự là '''Quán Thế''', tổ tiên bên ngoại là họ Quách ở Lũng Tây, Trung Quốc. Cha của Đỗ Anh Vũ là Đỗ Tướng, gọi Thái úy [[Lý Thường Kiệt]] là cậu ruột. Đỗ Anh Vũ có một người chị (hoặc em) gái ruột tên là Quỳnh Anh, về sau được gả cho quan Thị trung họ Phạm<ref name="vanbia">Văn bia "Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tính tự" (瞿越國太尉李公石碑銘并序 - ''Văn bia về Thái úy Lý công nước Cồ Việt'')</ref>. Ông có người anh họ làm quanQuan Thị trung, có 2 người con gái gảđều chođược vuahầu [[Lý Anh Tông]]. Người chị không rõ tên (Thụy...), người em tên là [[Đỗ Thụy Châu]], về sau sinh hoàngHoàng tử Thiên Bảo ([[1154]]) và các hoàng tử<ref>Văn bia chép bà sinh thêm 2 hoàng tử vào năm 1156 và 1158</ref>, trong đó có hoàngHoàng lục tử '''Lý Long Cán vào năm 1173''', về sau lên ngôi vua là [[Lý Cao Tông]].
 
Ông có người vợ họ Tô, không rõ tên, là họ hàng với [[Tô Hiến Thành]].
 
==Đại thần nhà Lý==
=== Phò trợ Hoàng đế ===
Theo [[Khâm định Việt sử thông giám cương mục]], Đỗ Anh Vũ có ngoại hình đẹp đẽ, múa khéo, hát hay. Năm lên 8 tuổi, ông được tuyển làm thượng''Thượng lâm tử đệ'' trong cung. Năm 15 tuổi, ông được Thái sư [[Trương Bá Ngọc]]<ref>[[Trương Bá Ngọc]] (?-1135), nguyên là họ Lê, năm 1125 được thăng [[Lễ bộ]] [[Thị lang,]]. Năm [[1128]], được thăng Thái úy, một năm sau được thăng Thái sư thì đổi lại thành họ Trương. Ông có người cháu gái được gả cho vua Thần Tông. ([http://gralib.hcmuns.edu.vn/greenstonelib/library?e=d-000-00---0sachlich--00-0-0--0prompt-10---4------0-1l--1-vi-50---20-about---00031-001-1-0utfZz-8-00&a=d&c=sachlich&cl=CL1&d=HASH0149d39c1237094672279282.10 Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 4])</ref> nhận làm con nuôi<ref name="vanbia"/>. Năm 16 tuổi, [[Lý Thần Tông]] cho ông vào nội cung, hầu trong màn trướng. Khi gặp Đỗ Anh Vũ, [[Cảm Thánh phu nhân|Cảm Thánh phu nhân]] Lê thị]]<ref>Sau khi Lý Anh Tông nối ngôi được phong Linh Chiếu Thái hậu.</ref>, vợ vuacủa Lý Thần Tông đã phải lòng<ref name="CM4">[http://gralib.hcmuns.edu.vn/greenstonelib/library?e=d-000-00---0sachlich--00-0-0--0prompt-10---4------0-1l--1-vi-50---20-about---00031-001-1-0utfZz-8-00&a=d&c=sachlich&cl=CL1&d=HASH0149d39c1237094672279282.10 Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 4]</ref>. Các việc chính sự ở trong cung cấm và việc xây dựng của thợ thuyền, Thần Tông đều ủy thác cho ông cả. Đến như các phép viết [[chữ]], tính toán, [[bắn cung]], cưỡi [[ngựa]], thuốc men, kinh mạch, không nghề nào là Đỗ Anh Vũ không tinh thông; đến như việc bói toán, binh pháp, chơi bài, đánh cờ, không việc nào là ông không nghiên cứu. Có thể bảo là ''"người quân tử không phải một đồ vật"'' vậy<ref name="vanbia"/>.
 
Năm [[1135]], vua Thần Tông cử ông theo Thái phó [[Lý Công Bình]]<ref>[[Phạm Công Bình]] là người là [[An Lạc]], phủ Tam Đái (nay là thôn An Lạc, xã Đồng Văn, huyện [[Yên Lạc]], [[Vĩnh Phúc]]), đỗ đầu khoa thi năm Giáp Thìn ([[1124]]) đời vua [[Lý Nhân Tông]]. Ông là người văn võ song toàn, năm [[1128]] được phong chức Thái úy và cử cầm quân đánh dẹp giặc [[Chân Lạp]]. Khi thắng trận trở về được phong Thái phó và ban quốc tính.</ref> đi đánh dẹp quân Chân Lạp<ref>Trong văn bia chép là ''Vân Đan''.</ref> ở phía Nam châu [[Nghệ An]].
===Sự nghiệp võ công===
Năm 1135, vua Thần Tông cử ông theo Thái phó [[Lý Công Bình]]<ref>Phạm Công Bình là người là An Lạc, phủ Tam Đái (nay là thôn An Lạc, xã Đồng Văn, huyện [[Yên Lạc]], [[Vĩnh Phúc]]), đỗ đầu khoa thi năm Giáp Thìn (1124) đời vua [[Lý Nhân Tông]]. Ông là người văn võ song toàn, năm 1128 được phong chức Thái úy và cử cầm quân đánh dẹp giặc [[Chân Lạp]]. Khi thắng trận trở về được phong Thái phó và ban quốc tính.</ref> đi đánh dẹp quân Chân Lạp<ref>Trong văn bia chép là ''Vân Đan''.</ref> ở phía Nam châu [[Nghệ An]].
 
Năm [[1136]], ông được cử đi dẹp quân [[Sơn Liêu]]<ref name="vanbia"/>, vì cậy chỗ hiểm trở mà nhiều năm không cống nạp. Thần Tông sai ông cùng các tướng đem quân đi đánh, nhưng chỉ riêng Đỗ Anh Vũ là người chiến thắng liên tiếp, vì thế người người đều trổ hết sức mạnh để đánh giặc. Từ đó về sau, triều đình đều ủy thác cho ông cả.
Năm 1136, ông được cử đi dẹp quân "Sơn Liêu"<ref name="vanbia"/> <!--(Có lẽ là quân ''Ai Lao'' chăng?).-->
 
Năm [[1137]], [[tháng 9]], Thần Tông hoàng đế băng hà. Trước đó, Hoàng đế rửa mặt xong, ngồi tựa vào ghế mà dặn Đỗ Anh Vũ rằng: ''"Chỉ có khanh là người có thể gởi gắm họ Lý được thôi"''<ref name="vanbia"/>. Sau khi Thần Tông thăng hà, Đỗ Anh Vũ cùng Linh Chiếu hoàng thái hậu rước Anh Tông từ [[Thượng Thanh để]] trở về cung lên ngôi. Đỗ Anh Vũ chấn chỉnh triều cương, trăm quan khép mình mà nghe lệnh; sửa sang chính trị. Hoàng thái hậu thấy Thái úy có nhiều công lao, có lòng trung tiết, bèn thăng chức Đỗ Anh Vũ lên chức ''Kiểm hiệu Thái phó''.
Năm 1137, vua Thần Tông [[qua đời]]. Ông được thăng Kiểm hiệu Thái phó, phò tá [[Lý Anh Tông]] lên ngôi.
 
Năm [[1138]], Đỗ Anh Vũ được phong làm ''Phụ quốc Thái úy'' và được ban quốc tính<ref name="vanbia"/>. (Vì vậy có tài liệu chép tên ông là '''Lý Anh Vũ)'''. Cùng trong năm đó [[Thân Lợi]]<ref>Văn bia chép là "''Thượng Suy Vi''".</ref> tự xưng là con của [[Lý Nhân Tông]], chiếm cứ châu Thượng Nguyên để làm phản, thủ hạ đông hơn 1000 người. Quan Gián nghị Đại phu Lưu Vũ Xứng<ref>Văn bia chép là Tả Gián nghị Đại phu Lưu Cao Nhĩ.</ref> được lệnh đi dẹp nhưng bị Thân Lợi đánh bại.
 
Thân Lợi kéo binh ra chiếm cứ châu Tây Nùng, đánh phá phủ Phú Lương, sắp tiến về kinh thành [[Thăng Long]]. Thái úy là Đỗ Anh Vũ được lệnh đi đánh. Ông đem quân đến Quảng Dịch thì đụng độ với quân Thân Lợi. Hai bên đánh nhau dữ dội. Quân Thân Lợi thua to, bị chết rất nhiều. Thân Lợi phải chạy trốn ở châu Long Lệnh<ref name="VSL3">[http://gralib.hcmuns.edu.vn/greenstonelib/library?e=d-000-00---0sachlich--00-0-0--0prompt-10---4------0-1l--1-vi-50---20-about---00031-001-1-0utfZz-8-00&a=d&c=sachlich&cl=CL1&d=HASH01f2870e199afddcb319ab14.4.2 Đại Việt sử lược, quyển 3]</ref>.
2.267

lần sửa đổi