Mở trình đơn chính

Các thay đổi

Unicodifying
| năm phục vụ= '''[[1951]]-[[1975]]
| cấp bậc= '''[[Hình: US-O7 insignia.svg|16px]] [[Chuẩn tướng]]
| đơn vị= '''[[Hình: SuDoan9.jpg|20px]] [[Sư đoàn 9 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 9 Bộ binh]]<br/>[[ ]][[Sư đoàn 21 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 21 Bộ binh]]<br/>[[Hình: QD IV VNCH.jpg|20px]] [[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV và QK 4]]
| chỉ huy= '''[[Hình: Flag of the Vietnamese National Army.svg|26px]] [[Quân đội Quốc gia Việt Nam|Quân đội Quốc gia]]<br/>[[Hình: Flag of the South Vietnamese Army.jpg|26px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Quân lực VNCH]]
| tham chiến= '''[[Chiến tranh Việt Nam]]
| khen thưởng= '''[[Bảo quốc Huân chương|B.quốc H.chương đệ IV]]<ref> Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (ân thưởng).</ref>
| công việc khác= '''[[Tỉnh (Việt Nam Cộng hòa)|Tỉnh trưởng]]
}}
 
===Quân đội Quốc gia Việt Nam===
Cuối tháng 6 năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 48/300.470. Theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc [[Thiếu úy]] hiện dịch. Ra trường, ông được phân bổ về đơn vị Bộ binh với chức vụ Trung đội trưởng. Hơn 2 tháng sau, ngày 1 tháng 7, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 5 của Tiểu đoàn 57 Việt Nam tân lập tại Móng Cái. Đầu năm 1954, ông được thăng cấp [[Trung úy]] giữ chức vụ Tiểu đoàn phó.
 
===Quân đội Việt Nam Cộng hòa===
Cuối năm 1955, sau khi đơn vị của ông từ Quân đội Quốc gia chuyển sang cơ cấu mới là [[Quân đội Việt Nam Cộng hòa]], ông được thăng cấp [[Đại úy]] tại nhiệm. Sau đó ông được cử theo học khóa Tiểu đoàn trưởng tại trường Đại học Quân sự Sài Gòn ''(tiền thân của trường Chỉ huy & Tham mưu).
 
Trung tuần tháng 11 năm 1956, ông được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng đầu tiên Tiểu đoàn 89 Việt Nam.<ref> Tiểu đoàn 89 Việt Nam thành lập ngày 16 tháng 11 năm 1956 tại Sông Mao, Bình Thuận.</ref> Đến giữa năm 1958, ông được cử đi du học khóa Bộ binh cao cấp tại trường Lục quân Fort Benning, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Đầu năm 1959 về nước, ông làm Huấn luyện viên tại Trung tâm Huấn luyện của Sư đoàn 1 Bộ binh tại Quân khu 1 ở miền Trung. Tháng 2 năm 1961, thuyên chuyển về miền Đông Nam phần, ông được cử làm Trưởng phòng 3 trong Bộ tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] tại nhiệm.
 
Giữa năm 1962, chuyển xuống miền Tây Nam phần, ông được chỉ định làm Tham mưu trưởng trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh. Đầu tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống [[Ngô Đình Diệm]], ông chuyển ra đơn vị tác chiến giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 13.<ref> Trung đoàn 13 là tiền thân của Trung đoàn 16 sau này thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh.</ref>
 
Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc [[Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964|Chỉnh lý nội bộ Chính quyền ngày 30 tháng 1]] của tướng [[Nguyễn Khánh]], ông được chuyển về Bộ tư lệnh Quân đoàn IV giữ chức vụ Trung tâm trưởng Trung tâm hành quân trong Bộ tư lệnh Quân đoàn.
[[Thể loại:Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:Người từ Quảng Ninh]]
[[Thể loại:ngườiNgười Pháp gốc Việt]]
48.517

lần sửa đổi