Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
clean up, replaced: → (5) using AWB
 
[[File:Janet Tour 01.jpg|thumb|left|230px|Jackson trình diễn trong [[Janet World Tour]], kéo dài từ năm 1993–95]]
Tháng 7 năm 1993, Jackson nhận vai diễn điện ảnh đầu tiên trong ''[[Poetic Justice (phim)|Poetic Justice]]''. Dù giới phê bình chỉ trích bộ phim, diễn xuất của bà được mô tả là "lý thú" và "kỳ quặc một cách không tưởng"."<ref>{{cite web | title = Poetic Justice |work=Rolling Stone | date = December 8, 2000 | archiveurl=https://web.archive.org/web/20100409203949/http://www.rollingstone.com/reviews/movie/5947325/review/5947326/poetic_justice|archivedate=9 tháng 4 năm 2010|url = http://www.rollingstone.com/reviews/movie/5947325/review/5947326/poetic_justice | accessdate = June 13, 2008}}</ref><ref>{{cite web| last= Howe| first= Desson | title = Poetic Justice |work=The Washington Post | date = July 23, 1993 | url = http://www.washingtonpost.com/wp-srv/style/longterm/movies/videos/poeticjusticerhowe_a0afdf.htm| accessdate = June 13, 2008}}</ref> Bản ballad "Again" sáng tác riêng cho bộ phim nhận đề cử [[Giải Quả cầu vàng cho ca khúc trong phim hay nhất|giải Quả cầu vàng]] và [[Giải Oscar cho ca khúc trong phim hay nhất|giải Oscar]] cho "Ca khúc trong phim hay nhất."<ref>{{cite web | last= Biddle | first= Frederic M. | title= Fashion and fame team on Oscar night | newspaper=The Boston Globe | page=61 | date= March 22, 1994}}</ref><ref name="jeljones1">{{harvnb|Halstead|Cadman|2003|p=85}}</ref> Tháng 9 năm 1993, Jackson xuất hiện bán khỏa thân trên bìa tạp chí ''Rolling Stone'', với phần ngực được bàn tay của người chồng lúc bấy giờ, René Elizondo, Jr. che lại. Bức ảnh là phiên bản gốc từ ảnh đồ họa của ''janet.'', do [[Patrick Demarchelier]] chụp lại.<ref>{{cite web| title = Janet Jackson |work=Rolling Stone | date = September 30, 2004 | url = http://www.rollingstone.com/news/story/6478137/janet_jackson | archiveurl=https://web.archive.org/web/20071223223513/http://www.rollingstone.com/news/story/6478137/janet_jackson|archivedate=23 tháng 12 năm 2007|accessdate = July 23, 2008}}</ref> ''[[The Vancouver Sun]]'' ghi nhận đây là "một trong những ảnh bìa tạp chí bị đả kích và dễ nhận biết nhất."<ref>{{Cite web | last1 = Murray | first1 = Sonia | title = Janet: The Queen of Pop: Michael could lose his crown to his hot little sister | page = C1 | newspaper=[[The Vancouver Sun]]| date = February 3, 1994| issn = 0832-1299}}</ref> Để quảng bá cho album, The [[Janet World Tour]] được công bố, nhận nhiều lời chỉ trích về giọng hát nhưng được khen ngợi về khả năng trình diễn của bà.<ref>{{cite news|author=Jon Pareles|title=Wrapped in Song and Spectacle, Janet Jackson Plays the Garden|newspaper=[[The New York Times]]|date=1993-12-20|page=C.11|issn=0362-4331}}</ref><ref>{{cite news| last= Graham | first=Renee | title=Janet Jackson: looks good, sounds bad | newspaper=[[Boston Globe]] | pages=34 | date=1994-06-20}}</ref> ''San Francisco Chronicle'' gọi chương trình xóa bỏ đi ranh giới giữa "đêm nhạc pop trên khán đài lớn và sân khấu trình diễn hoành tráng."<ref name="Michael Snyder">{{cite news| last=Snyder | first=Michael | title=Janet Jackson Makes All The Right Moves / Singer brings extravaganza to San Jose | newspaper=San Francisco Chronicle | page=C1 | date=February 18, 1994}}</ref>
 
Trong thời gian này, anh trai Michael của bà [[Vụ kiện lạm dụng tình dục trẻ em của Michael Jackson năm 1993|bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em]]; ông phủ nhận bất kỳ hành vi sai trái nào.<ref>{{cite news|last1=Corliss |first1=Richard |last2=Sachs |first2=Andrea |title=Society: Who's Bad? An age of innocence may be at an end as Michael Jackson, the Peter Pan of pop, confronts accusations that he sexually abused one of his young friends | newspaper=TIME| page=54 | date=September 6, 1993}}</ref> Bà ủng hộ tinh thần cho Michael, bênh vực anh trai mình, bác bỏ những cáo buộc lạm dụng liên quan đến chị gái [[La Toya Jackson|La Toya]] và cha mẹ họ.<ref name="Robert Hilburn">{{cite news| last= Hilburn | first= Robert | title= I Think I've Finally Grown Up | newspaper=[[Newsday]] | page=10 | date=1994-06-27}}</ref> Bà hợp tác với [[Michael Jackson]] trong "[[Scream/Childhood|Scream]]", đĩa đơn đầu tiên trích từ album ''[[HIStory: Past, Present and Future, Book I|HIStory]]'', ra mắt năm 1995. Bài hát do cả hai anh em sáng tác như một lời đáp trả trước sự săm soi của dư luận.<ref name="TCI">{{cite news|last=Boepple |first= Leanne |title = Scream: space odyssey Jackson-style.(video production; Michael and Janet Jackson video) | page = 52 |volume=29 | newspaper=Theatre Crafts International | date = November 1, 1995 |issn=1063-9497}}</ref><ref name = "pinkerton 34">{{cite book|last=Pinkerton|first=Lee|title= The Many Faces of Michael Jackson|publisher=Music Sales Distribution|year=1997|isbn=0-7119-6783-0}}</ref> Đĩa đơn đạt hạng 5 Hot&nbsp;100 trong tuần lên kệ, trở thành bài hát đầu tiên mở màn trong top 5.<ref>{{cite book|author=George, Nelson|year=2004|title=''[[Michael Jackson: The Ultimate Collection]]''|publisher=[[Sony BMG]]|format=booklet}}</ref> "Scream" xuất hiện trong quyển ''[[Sách kỷ lục Guinness]]'' cho hạng mục "Video âm nhạc đắt đỏ nhất", với kinh phí 7 triệu đô-la Mỹ.<ref name="mostexpensive">{{chú thích web|url=http://music.uk.msn.com/photos/photos.aspx?cp-documentid=150253228 |title=The Most Expensive Music Videos Ever Made |publisher=MSN |date=ngày 16 tháng 10 năm 2009 |accessdate=ngày 22 tháng 5 năm 2014}}</ref> Video thắng giải Grammy cho "[[Giải Grammy cho Video âm nhạc xuất sắc nhất|Video âm nhạc ngắn xuất sắc nhất]]".<ref>{{chú thích báo|url=http://www.cnn.com/SHOWBIZ/Music/9601/grammy_noms/grammy_list.html|title=List of Grammy nominees|date=ngày 4 tháng 1 năm 1996|accessdate=ngày 18 tháng 6 năm 2010|publisher=CNN}}</ref>
 
=== 2004–05: Tranh cãi Super Bowl XXXVIII và ''Damita Jo'' ===
[[National Football League|Giải Bóng bầu dục quốc gia]] và MTV chọn Jackson để trình diễn tại chương trình giữa giờ [[Super Bowl XXXVIII]], vào tháng 2 năm 2004. Bà trình diễn liên khúc "All for You", "Rhythm Nation" và trích đoạn "The Knowledge", trước khi đến bài hát "[[Rock Your Body]]" cùng khách mời [[Justin Timberlake]]. Khi Timberlake hát câu "I'm gonna have you naked by the end of this song", anh xé rách trang phục của Jackson, để lộ bên ngực phải trước 140 triệu khán giả. Jackson đưa ra lời xin lỗi sau màn trình diễn này, khẳng định đây chỉ là một sự cố bất ngờ, vì theo kịch bản Timberlake chỉ giật chiếc áo yếm và giữ nguyên phần áo ngực đỏ bên trong.<ref name="apologeticjackson">{{Cite web | title = Apologetic Jackson says 'costume reveal' went awry |publisher=CNN | date = February 3, 2004 | url = http://www.cnn.com/2004/US/02/02/superbowl.jackson/ | accessdate = May 20, 2006}}</ref> Bà viết rằng "Tôi thật sự xin lỗi nếu đã xúc phạm tới bất kỳ ai. Đây hoàn toàn không phải ý định của tôi&nbsp;... MTV, CBS, the NFL đều không hay biết điều này và thật đáng tiếc, mọi chuyện đã diễn ra theo cách này."<ref>{{Cite web | title = Jackson's apology can't stem mass anger | publisher=[[ESPN]] | url = http://sports.espn.go.com/nfl/playoffs03/news/story?id=1724968&partnersite=espn | accessdate = March 9, 2008|date=5 tháng 2 năm 2004}}</ref> Timberlake cũng đưa ra lời xin lỗi, gọi đó là một "sự cố trang phục."<ref name="apologeticjackson" /> Đây là khoảnh khắc được thu và chơi lại nhiều nhất lịch sử [[TiVo]], thu hút ước tính 35.000 lượt đăng ký.<ref>{{Cite web | title=Numbers | newspaper=Time |volume=163 |issue=7 | page=19 | date=February 16, 2004|issn=0040-781X}}</ref><ref>{{Cite web |last=Burke |first=Monte | title=The Ripple Effect | newspaper=Time |volume=173 |issue=4 | page=46 | date=March 1, 2004|issn=0015-6914|url=http://www.forbes.com/forbes/2004/0301/046a.html}}</ref> Được xem là một trong những sự kiện truyền hình gây tranh cãi nhất, ''Sách kỷ lục Guinness'' sau này liệt Jackson cho danh hiệu "Tìm kiếm nhiều nhất trong lịch sử Internet" và "Sự kiện thời sự tìm kiếm nhiều nhất".<ref>{{Cite web | title = Star-studded 2007 edition of Guinness World Records released | publisher=[[CBC News]] | date = September 29, 2006 | url=http://www.cbc.ca/m/touch/arts/story/2006/09/29/guinness-record-book.html | accessdate=March 19, 2012|archiveurl=https://web.archive.org/web/20120626214517/http://www.cbc.ca/m/touch/arts/story/2006/09/29/guinness-record-book.html|archivedate=29 tháng 9 năm 2006}}</ref> CBS, [[National Football League|NFL]] và MTV (kênh chị em với CBS, nơi sản xuất chương trình giữa giờ), bác bỏ mọi liên quan và trách nhiệm đến vụ việc này. [[Federal Communications Commission|Ủy ban Truyền thông Liên bang]] phạt nặng toàn bộ công ty liên quan và tiếp tục điều tra trong 8 năm, sau cùng đưa ra án phạt 550.000 đô-la Mỹ tới đài CBS.<ref>{{Cite web |last=Davidson |first=Paul | title=FCC loses appeal of 'wardrobe malfunction' fine | newspaper=USA Today | page=2b| date=July 22, 2008|issn=0734-7456}}</ref>
 
Sau sự cố, CBS chỉ định Timberlake xuất hiện tại [[giải Grammy lần thứ 46]], nhưng không cho phép Jackson tới dự và buộc bà phải hủy kế hoạch giới thiệu tại lễ trao giải.<ref>{{cite web| title = Jackson banned from Grammys for Super Bowl stunt| publisher = The Telegraph| date = May 4, 2004| url = http://www.telegraph.co.uk/news/1453527/Jackson-banned-from-Grammys-for-Super-Bowl-stunt.html| accessdate = June 18, 2013|archiveurl=https://web.archive.org/web/20161018213009/http://www.telegraph.co.uk/news/1453527/Jackson-banned-from-Grammys-for-Super-Bowl-stunt.html|archivedate=18 tháng 10 năm 2016}}</ref> Tranh cãi còn hoãn kế hoạch diễn xuất của bà trong phim tiểu sử về ca sĩ và nhà hoạt động [[Lena Horne]], do [[American Broadcasting Company]] sản xuất. Dù Horne được cho là không hài lòng với sự cố Super Bowl, đại diện của Jackson phát biểu chính bà là người tự nguyện rời bỏ dự án này.<ref>{{Cite web | title = Horne: Janet Jackson, don't play me |agency=Associated Press | publisher=CNN | date = February 4, 2004 | url = http://www.cnn.com/2004/SHOWBIZ/TV/02/24/tv.janetjackson.ap/ | accessdate = April 3, 2008 | format = – <sup>[http://scholar.google.co.uk/scholar?hl=en&lr=&q=intitle%3AHorne%3A+Janet+Jackson%2C+don%27t+play+me&as_publication=&as_ylo=&as_yhi=&btnG=Search Scholar search]</sup>|archiveurl = https://web.archive.org/web/20050220135401/http://www.cnn.com/2004/SHOWBIZ/TV/02/24/tv.janetjackson.ap/ |archivedate = February 20, 2005}}</ref> Một bức tượng [[chuột Mickey]] mặc trang phục "Rhythm Nation" nổi tiếng của Jackson đặt tại công viên [[Walt Disney World]] bị gỡ bỏ sau màn trình diễn gây tranh cãi. Bức tượng này xây dựng vào một năm trước để vinh danh bà.<ref>{{cite web|url=http://www.ew.com/ew/article/0,,597274,00.html|title=Disney World removes Janet Jackson-inspired statue|work=Entertainment Weekly|author=Susman, Gary|date=March 3, 2004|accessdate=January 4, 2014}}</ref>
Diễn biến thương mại của album vấp phải ảnh hưởng lớn từ sự phản đối của công chúng, bị cấm tại nhiều trạm phát thanh và kênh âm nhạc. Các tập đoàn tham gia tẩy chay Jackson bao gồm [[Viacom]] và CBS, các công ty con MTV, [[Clear Channel Communications]] và [[Infinity Broadcasting]].<ref name=kreps>{{cite news |url=http://www.rollingstone.com/culture/news/nipple-ripples-10-years-of-fallout-from-janet-jacksons-halftime-show-20140130|title=Nipple Ripples: 10 Years of Fallout From Janet Jackson's Halftime Show|work=Rolling Stone |author=Kreps, Daniel|accessdate=January 30, 2014|date=January 30, 2014}}</ref><ref>{{Cite web| title = Blackballed – Panache Report | publisher=Panach Report | year = 2004 | url = http://panachereport.com/channels/old_school_update/Blackballed.htm | accessdate = June 18, 2013}}</ref> Sự phản đối này ảnh hưởng tới việc phát hành ''Damita Jo'' và kéo dài tới hai album tiếp theo của Jackson. Một nhà điều hành cấp cao của tập đoàn giải trí [[Viacom]], nơi sở hữu MTV, VH1 và nhiều định dạng truyền thanh khác, chia sẻ họ "hoàn toàn ngó lơ đĩa nhạc này. Áp lực lớn tới mức họ không thể đồng thuận với bất kỳ điều gì liên quan tới Janet. Giới cấp cao vẫn tức giận cô ta và đây là một biện pháp trừng phạt."<ref name="blender">{{cite book |last=Tannenbaum |first=Robert |year=2004 |title=America's Most Wanted | publisher = [[Blender Magazine]]| page=128}}</ref> Trước vụ bê bối, doanh số của ''Damita Jo'' được trông đợi vượt trội hơn ''All for You''.<ref name="southcoasttoday.com">{{cite news |url=http://www.southcoasttoday.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/20040329/LIFE/303299955 |title=Awaiting 'Damita Jo': SouthCoastToday.com |work=South Coast Today |accessdate=October 15, 2013 |date=March 29, 2004}}</ref> 3 đĩa đơn trích từ album này—"[[Just a Little While]]", "[[I Want You (bài hát của Janet Jackson)|I Want You]]", "[[All Nite (Don't Stop)]]"–nhận nhiều đánh giá tích cực, nhưng không thể giữ thứ hạng cao, dù được cho là có diễn biến khá tốt dưới tình cảnh khó khăn lúc bấy giờ.<ref name="Newsday">{{cite web|url=http://www.newsday.com/entertainment/music/ |title=A "Sexploration": Janet Jackson's "Damita Jo" album gets lost in the lust |date=March 29, 2004 |accessdate=February 7, 2014 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20140122060228/http://www.newsday.com/entertainment/music |archivedate=January 22, 2014 }}</ref> ''Billboard'' báo cáo ''Damita Jo'' "bị lu mờ phần lớn bởi tàn dư của Super Bowl", với 3 đĩa đơn—"là những điểm sáng của album này"–bị ngăn chặn trên đài phát thanh pop.<ref name="Together Again">{{Cite web| last = Hope | first = Clover | title = Together Again: Janet Jackson |work=Billboard | date = February 4, 2008 | url = http://www.billboard.com/articles/news/1046632/together-again-janet-jackson | accessdate = March 23, 2008}}</ref> "I Want You" đạt chứng nhận Bạch kim tại Mỹ<ref name="cert"/> và giành đề cử cho giải Grammy.
 
Để quảng bá, Jackson làm chủ trì trên ''[[Saturday Night Live]]'', trình diễn hai bài hát và làm khách mời trong phim hài kịch tình huống ''[[Will & Grace]]''.<ref>{{Cite web|last1=Hay |first1=Carla | title=The Billboard Backbeat | newspaper=Billboard |volume=116 |issue=35 | pages=60–61 | date=August 28, 2004}}</ref> Jackson nhận "Giải thưởng Huyền thoại" tại [[Radio Music Awards]], "Giải thưởng Cảm hứng" từ [[MTV Japan Video Music Awards|Giải Video âm nhạc Nhật Bản]], "Giải thưởng Thành tựu trọn đời" tại [[Soul Train Music Awards]] và đề cử giải [[Teen Choice Awards]] cho "Nữ nghệ sĩ yêu thích nhất." Tháng 11 năm 2004, [[100 Black Men of America]], Inc. bình chọn Jackson là hình mẫu đại diện cho giải "Thành tựu nghệ thuật" của tổ chức này, ca ngợi "sự nghiệp thành công vĩ đại" của bà.<ref>{{Cite web| title=New York Chapter Of 100 Black Men Honors Janet Jackson, Hank Aaron, Johnnetta Cole, Willie Gary | newspaper=Jet |volume=106 |issue=23 | page=28 | date=December 6, 2004|issn=0021-5996}}</ref> Trước những chỉ trích vì vinh danh Jackson sau vụ bê bối, tổ chức này đáp trả "giá trị của một cá nhân không thể bị đánh giá chỉ vì một khoảnh khắc trong đời."<ref>{{Cite web |last1=Browne |first1= J. Zamgba | title=Janet Jackson stirs up controversy at annual gala of 100 Black Men | newspaper=[[New York Amsterdam News]] |volume=95 |issue=47 | page=8 | date=November 18, 2004|issn=0028-7121}}</ref><ref>{{Cite web|last1= Berry |first1= Steve | title=Janet Jackson stirs up controversy at annual gala of 100 Black Men | newspaper=[[The Columbus Dispatch]] |volume=95 |issue=47 | page=12.D| date=November 11, 2004|issn=1074-097X}}</ref> Tháng 6 năm 2005, bà được [[Human Rights Campaign]] và [[AIDS Project Los Angeles]] trao "Giải thưởng Nhân đạo" để công nhận những đóng góp của bà cho các quỹ từ thiện AIDS.<ref>{{Cite web| title = Janet Jackson Receives HRC Award – Towleroad | publisher=Towleroad.com | date = June 20, 2005 | url = http://www.towleroad.com/2005/06/janet_jackson_r.html |accessdate = September 9, 2010}}</ref>
 
=== 2006–07: ''20 Y.O.'' và ''Why Did I Get Married?'' ===
*{{cite book|last1=Vincent|first1=Rickey|last2=Clinton|first2=George|title=Funk: The Music, The People, and The Rhythm of The One|publisher=Macmillan|year=1996|isbn=0-312-13499-1|ref = harv}}
*{{cite book|last=Warner|first=Jay|title=On this Day in Black Music History|publisher=[[Hal Leonard]]|year=2006|isbn=0-634-09926-4|ref = harv}}
*{{cite book|last1=Love|first= Roger|last2=Frazier|first2=Donna |title=Set Your Voice Free: How To Get The Singing Or Speaking Voice You Want|publisher=[[Little, Brown and Company]]|year=2009|isbn=978-0-316-09294-4|ref = harv}}
*{{cite book|last=Andriessen|first=Louis|author2=Maja Trochimczyk|title=The music of Louis Andriessen|publisher=Routledge|year=2002|isbn=978-0-8153-3789-8|ref = harv}}
*{{Cite book|last=Rischar|first=Richard |title=A Vision of Love: An Etiquette of Vocal Ornamentation in African-American Popular Ballads of the Early 1990s|journal=American Music|volume=22|publisher=[[University of Illinois Press]]|issue=3|year=2004|doi=10.2307/3592985|ref = harv}}
*{{cite book |first=David |last=Ritz |year=2004 |title=The Naked Truth| publisher = Upscale|ref = harv}}
*{{cite book |first=Smith-Shomade|last=Beretta E.|title=Shaded Lives: African-American Women and Television|publisher=Rutgers University Press|year=2002|isbn= 9780813531052|ref = harv}}
*{{cite book |first1=Jordan|last1=Stephanie |first2=Dave|last2=Allen |title=Parallel Lines: Media Representations of Dance|publisher=Indiana University Press|isbn=9780861963713|year=1993|ref = harv}}
*{{cite book |first1=Helmi|last1=Järviluoma |first2=Pirkko|last2=Moisala |first3=Anni|last3=Vilkko |title=Gender and Qualitative Methods|publisher=[[Sage Publications]]|year=2003|isbn=978-0-7619-6585-5|ref = harv}}
*{{cite book |first=Jean M.|last=Twenge|title=Generation Me: Why Today's Young Americans are More Confident, Assertive, Entitled—and More Miserable Than Ever Before|isbn=9781476755564|publisher=[[Simon & Schuster]]|year=2007|ref = harv}}