Khác biệt giữa các bản “Tiết khí”

bỏ phần Hai mươi tư tiết khí, do có ở bài Mùa
n (→‎Hai mươi tư tiết khí: sửa chính tả 2, replaced: ! → ! (5) using AWB)
(bỏ phần Hai mươi tư tiết khí, do có ở bài Mùa)
{{Chính|Mùa}}{{chú thích trong bài}}
'''Tiết khí''' ([[tiếng Trung Quốc|tiếng Hán]] truyền thống: 節氣; phát âm [[Bính âm Hán ngữ|PinYin]]: ''Jieqi'') là 24 điểm đặc biệt trên quỹ đạo của [[Trái Đất]] xung quanh [[Mặt Trời]], mỗi điểm cách nhau 15°. Tiết khí có xuất xứ từ [[Trung Quốc]]. Nó được sử dụng trong công tác lập lịch của các nền văn minh phương đông cổ đại như [[Trung Quốc]], [[Việt Nam]], [[Nhật Bản]], [[Triều Tiên]] để đồng bộ hóa các mùa. Ở Việt Nam có một số học giả phân biệt tiết và khí. Họ cho rằng cứ một tiết lại đến một khí. Tuy nhiên để dễ hiểu, nhiều người vẫn gọi chung là ''tiết khí'' hoặc đơn giản chỉ là ''tiết''.
 
 
Nên khoảng cách giữa hai tiết khí kề nhau sẽ ở trong khoảng 14-16 ngày. Lấy ví dụ trong kỷ nguyên J2000 khoảng thời gian từ [[điểm thu phân]] đến [[điểm xuân phân]] ở [[Bắc bán cầu]] là 6 ngày ngắn hơn khoảng thời gian từ [[điểm xuân phân]] đến [[điểm thu phân]]. Đó là do [[quỹ đạo]] hình elip của [[Trái Đất]]; vào [[tháng một|tháng 1]], Trái Đất ở gần Mặt Trời nhất ([[củng điểm quỹ đạo#Cận điểm quỹ đạo|điểm cận nhật]] vào khoảng ngày [[3 tháng 1]]) nên theo [[những định luật của Kepler về chuyển động thiên thể|định luật Kepler]] nó phải chuyển động nhanh hơn thời kỳ ở xa Mặt Trời ([[củng điểm quỹ đạo#Viễn điểm quỹ đạo|điểm viễn nhật]] khoảng ngày [[4 tháng 7]]). Chính vì thế nên nửa [[hoàng Đạo|hoàng đạo]] từ điểm xuân phân đến điểm thu phân, Trái Đất đi hết 186 ngày. Nửa còn lại, từ điểm thu phân đến điểm xuân phân, chỉ cần 179 đến 180 ngày.
 
==Hai mươi tư tiết khí==
 
Bảng dưới đây liệt kê hai mươi tư tiết khí trong lịch các nước phương Đông:
{{tiết khí}}
{| class="wikitable"
|-
![[Kinh độ Mặt Trời]]!! Tiếng Việt!! Tiếng Hoa<sup>1</sup>!! Tiếng Nhật!!Tiếng Triều<sup>2</sup>!! Ý nghĩa<sup>3</sup>!! Ngày [[dương lịch]]<sup>4</sup>
|-
|315°||[[Lập xuân]]||立春||立春(りっしゅん)||입춘(立春)||Bắt đầu mùa xuân||[[4 tháng 2]]
|-
|330°||[[Vũ thủy]]||雨水||雨水(うすい)||우수(雨水)||Mưa ẩm||[[19 tháng 2]]
|-
|345°||[[Kinh trập]]||驚蟄(惊蛰)||啓蟄(けいちつ)||경칩(驚蟄)||Sâu nở||[[5 tháng 3]]
|-
|0°||[[Xuân phân]]||春分||春分(しゅんぶん)||춘분(春分)||Giữa xuân||[[21 tháng 3]]
|-
|15°||[[Thanh minh]]||清明||清明(せいめい)||청명(清明)||Trời trong sáng||[[5 tháng 4]]
|-
|30°||[[Cốc vũ]]||穀雨(谷雨)||穀雨(こくう)||곡우(穀雨)||Mưa rào||[[20 tháng 4]]
|-
|45°||[[Lập hạ]]||立夏||立夏(りっか)||입하(立夏)||Bắt đầu mùa hè||[[6 tháng 5]]
|-
|60°||[[Tiểu mãn]]||小滿(小满)||小満(しょうまん)||소만(小滿)||Lũ nhỏ, duối vàng ||[[21 tháng 5]]
|-
|75°||[[Mang chủng]]||芒種(芒种)||芒種(ぼうしゅ)||망종(芒種)||Chòm sao [[Tua Rua]] mọc ||[[6 tháng 6]]
|-
|90°||[[Hạ chí]]||夏至||夏至(げし)||하지(夏至)||Giữa hè||[[21 tháng 6]]
|-
|105°||[[Tiểu thử]]||小暑||小暑(しょうしょ)||소서(小暑)||Nóng nhẹ||[[7 tháng 7]]
|-
|120°||[[Đại thử]]||大暑||大暑(たいしょ)||대서(大暑)||Nóng oi||[[23 tháng 7]]
|-
|135°||[[Lập thu]]||立秋||立秋(りっしゅう)||입추(立秋)||Bắt đầu mùa thu||[[7 tháng 8]]
|-
|150°||[[Xử thử]]||處暑(处暑)||処暑(しょしょ)||처서(處暑)||Mưa ngâu ||[[23 tháng 8]]
|-
|165°||[[Bạch lộ]]||白露||白露(はくろ)||백로(白露)||Nắng nhạt||[[8 tháng 9]]
|-
|180°||[[Thu phân]]||秋分||秋分(しゅうぶん)||추분(秋分)||Giữa thu||[[23 tháng 9]]
|-
|195°||[[Hàn lộ]]||寒露||寒露(かんろ)||한로(寒露)||Mát mẻ ||[[8 tháng 10]]
|-
|210°||[[Sương giáng]]||霜降||霜降(そうこう)||상강(霜降)||Sương mù xuất hiện||[[23 tháng 10]]
|-
|225°||[[Lập đông]]||立冬||立冬(りっとう)||입동(立冬)||Bắt đầu mùa đông||[[7 tháng 11]]
|-
|240°||[[Tiểu tuyết]]||小雪||小雪(しょうせつ)||소설(小雪)||Tuyết xuất hiện||[[22 tháng 11]]
|-
|255°||[[Đại tuyết]]||大雪||大雪(たいせつ)||대설(大雪)||Tuyết dày||[[7 tháng 12]]
|-
|270°||[[Đông chí]]||冬至||冬至(とうじ)||동지(冬至)||Giữa đông||[[22 tháng 12]]
|-
|285°||[[Tiểu hàn]]||小寒||小寒(しょうかん)||소한(小寒)||Rét nhẹ||[[6 tháng 1]]
|-
|300°||[[Đại hàn]]||大寒||大寒(だいかん)||대한(大寒)||Rét đậm||[[21 tháng 1]]
|}
 
'''Ghi chú:'''
#Trong ngoặc là tiếng Hoa giản thể nếu cách viết khác với [[tiếng Trung Quốc|tiếng Hoa]] phồn thể (truyền thống).
#Trong ngoặc là cách viết kiểu [[Hanja]]
#Ý nghĩa của các tiết về cơ bản là giống nhau trong các nước, tuy nhiên có một vài điểm khác nhau rõ rệt.
#Ngày bắt đầu của tiết khí có thể cách nhau trong phạm vi ±1 ngày.
 
Trong khoảng thời gian giữa các tiết khí như Đại tuyết, Tiểu tuyết trên thực tế ở miền bắc Việt Nam không có tuyết rơi. (Trừ một số đỉnh núi cao như [[Phan Xi Păng]], [[Mẫu Sơn]] có thể có, tuy vậy tần số xuất hiện rất thấp và lại rơi vào khoảng thời gian của Tiểu hàn-Đại hàn).
 
Các điểm diễn ra hay bắt đầu các tiết xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí trùng với các điểm ''vernal equinox'' ([[điểm xuân phân]]), ''summer solstice'' ([[điểm hạ chí]]), ''autumnal equinox'' ([[điểm thu phân]]), ''winter solstice'' ([[điểm đông chí]]) trong tiếng Anh đối với [[Bắc bán cầu]].
 
[[Tập tin:Tiết Khí.svg|nhỏ|300px]]
 
==Ý nghĩa tiết khí==
Phân tích các tiết khí theo bảng trên đâybài [[Mùa]], có thể nhận thấy chúng có liên quan đến các yếu tố khí hậu và thời tiết rất đặc trưng cho vùng đồng bằng sông [[Hoàng Hà]] của Trung Quốc. Trong quá khứ nó đã từng được áp dụng để tính toán các thời điểm gieo trồng [[ngũ cốc]] sao cho phù hợp với các điều kiện thời tiết và khả năng sinh trưởng của chúng. Tuy vậy nó cũng có thể áp dụng được cho các vùng lân cận như khu vực phía bắc Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v. Chính vì thế lịch Trung Quốc xưa còn có tên gọi là '''nông lịch''' tức lịch nông nghiệp.
 
==Phân định mùa==
4.380

lần sửa đổi