Khác biệt giữa các bản “Từ Văn Bê”

n
→‎Quân đội Việt Nam Cộng hòa: tên bài chính, replaced: Phi Luật Tân → Philippines
n (→‎Quân đội Việt Nam Cộng hòa: tên bài chính, replaced: Phi Luật Tân → Philippines)
Đầu năm 1956, ông là sĩ quan cơ khí của Phi đoàn 1 thay thế Trung úy Lê Văn Khương. Tháng 12 cùng năm, ông được thăng cấp [[Trung úy]] và được cử làm Trưởng phòng Kỹ thuật của Phi đoàn Khu trục<ref>Phi đoàn Khu trục được thành lập vào ngày 1 tháng 6 năm 1956 tại Biên Hòa.</ref> do Đại úy Huỳnh Hữu Hiền<ref>Đại úy '''Huỳnh Hữu Hiền''' (Tốt nghiệp Sĩ quan Trừ bị Nam Định. Nguyên tư lệnh Không quân 1962-1963. Giải ngũ cuối năm 1963).</ref> làm Chỉ huy trưởng.
 
Giữa năm 1958, ông được thăng cấp [[Đại úy]], bàn giao chức vụ Trưởng phòng Kỹ thuật lại cho Đại úy Dương Xuân Nhơn. Sau đó được cử đi du học tu nghiệp tại căn cứ Không quân Hoa Kỳ Clark ở Phi Luật TânPhilippines. Mãn khóa về nước ông được cử giữ chức Giám đốc Công xưởng Biên Hòa thay thế Đại úy Lê Văn Khương.<ref>Đại úy '''Lê Văn Khương'''. Sau cùng là Đại tá Không quân.</ref>
 
Cuối năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống [[Ngô Đình Diệm]] (1 tháng 11). Ngày 5 tháng 11, ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] tại nhiệm. Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc [[Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964|Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1]] với các tướng lãnh trong [[Hội đồng Quân nhân Cách mạng (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng Quân Nhân Cách mạng]] để lên nắm quyền lãnh đạo của tướng [[Nguyễn Khánh]], Công xưởng Không quân Biên Hòa được cải danh thành Không đoàn Kỹ thuật và Tiếp vận đồng thời chức vụ Giám đốc Công xưởng cũng được cải danh thành chức vụ Tư lệnh Không đoàn. Ông trở thành Tư lệnh đầu tiên của Không đoàn Kỹ thuật và Tiếp vận.