Khác biệt giữa các bản “Khối Thịnh vượng chung Anh”

n
n (Đã lùi lại sửa đổi của 185.89.219.229 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của 花箋)
Sau khi [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] kết thúc, Đế quốc Anh dần tan vỡ cho đến khi Anh Quốc còn lại 14 [[Lãnh thổ hải ngoại thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh|lãnh thổ hải ngoại]]. Trong tháng 4 năm 1949, sau Tuyên ngôn Luân Đôn, từ "Anh" bị bỏ khỏi danh hiệu của Thịnh vượng chung nhằm phản ánh biến hóa về bản chất của nó.<ref>{{chú thích web|url=http://www.thecommonwealth.org/Internal/191086/34493/187367/celebrating_thecommonwealth_60|title=Celebrating thecommonwealth@60|publisher=Commonwealth Secretariat|work=thecommonwealth.org|date=ngày 26 tháng 4 năm 2009|accessdate=ngày 29 tháng 7 năm 2011}}</ref> [[Myanmar]] (1948) và [[Aden]] (1967) là những quốc gia duy nhất là thuộc địa của Anh trong thế chiến song không gia nhập Thịnh vượng chung khi độc lập. Những lãnh thổ bảo hộ và được ủy thác cũ của Anh song không trở thành thành viên của Thịnh vượng chung là Ai Cập (độc lập năm 1922), [[Iraq]] (1932), [[Jordan|Transjordan]] (1946), [[Palestine thuộc Anh]] (bộ phận trở thành quốc gia [[Israel]] năm 1948), [[Sudan]] (1956), [[Somaliland thuộc Anh]] (thống nhất với [[Somaliland thuộc Ý]] cũ vào năm 1960 để hình thành Cộng hòa Somali), [[Kuwait]] (1961), [[Bahrain]] (1971), [[Oman]] (1971), [[Qatar]] (1971), và [[Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất]] (1971).
 
Ngày 18 tháng 4 năm 1949, Ireland chính thức trở thành một nước cộng hòa theo Đạo luật Cộng hòa Ireland năm 1948, do vậy tự động loại trừ khỏi Thịnh vượng chung. Trong khi Ireland không tích cực tham dự trong Thịnh vượng chung kể từ đầu thập niên 1930 và sẵn lòng rời Thịnh vượng chung, thì các quốc gia tự trị khác mong muốn trở thành các nước cộng hòa mà không mất liên kết Thịnh vượng chung. Vấn đề lên đến đỉnh điểm vào tháng 4 năm 1949 trong một hội nghị các thủ tướng Thịnh vượng chung tại Luân Đôn. Theo Tuyên ngôn Luân Đôn, Ấn Độ chấp thuận rằng khi họ trở thành một nước cộng hòa trong tháng 1 năm 1950, họ sẽ chấp thuận quân chủ Anh như một "biểu trưng của liên kết tự do của các quốc gia thành viên độc lập trong Khối và bởi thế là nguyên thủ của Thịnh vượng chung. Khi nghe về điều này, Quốc vương [[George VI của Anh|George VI]] nói với chính trị gia người Ấn Độ [[Krishna Menon]]: "Thế là tôi thành 'bởi thế'".<ref>[http://www.indianexpress.com/news/staying-loyal-to-george/581730/0 Indianexpress.com]</ref> Các quốc gia Thịnh vượng chung khác công nhận Ấn Độ duy trì tư cách thành viên của tổ chức. Do Pakistan kiên trì, Ấn Độ không được nhìn nhận là một trường hợp đặc biệt và các quốc gia khác sẽ được đối xử tương tự như Ấn Độ.
 
Tuyên ngôn Luân Đôn thường được nhận định là sự khởi đầu của Thịnh vượng chung hiện đại. Sau tiền lệ của Ấn Độ, các quốc gia khác trở thành nước cộng hòa, hoặc quân chủ lập hiến với quân chủ của mình, trong khi một số quốc gia duy trì quân chủ tương tự Anh Quốc, trong chế độ quân chủ của họ phát triển khác biệt và ngay sau đó trở nên hoàn toàn độc lập với chế độ quân chủ Anh Quốc.