Khác biệt giữa các bản “Phiên phiệt”

không có tóm lược sửa đổi
n (Chính thể đầu sỏ thời Meiji đổi thành Chính thể đầu sỏ thời Minh Trị: Thống nhất ghi Minh Trị thay vì Meiji)
'''Chính thể đầu sỏ thời Meiji''', với các nhà sử học là tầng lớp nắm quyền mới vào [[thời Meijikỳ Minh Trị]] của [[Nhật Bản]], là một nhóm đặc quyền, sử dụng quyền lực [[Thiên hoàng]], đôi khi mang tính chuyên chế. Thành viên của tầng lớp này là người trung thành ''[[kokugaku]]'' và tin rằng mình là người tạo ra trật tự mới, và cũng vĩ đại như người ban đầu đã lập ra nước Nhật. 2 nhân vaatjchinhsvật chính của nhóm này là [[Okubo Toshimichi]] (1832–78), con trai của một phiên sỹ [[Satsumaphiên hanbang Satsuma|Satsuma]], và Satsuma [[samurai]] [[Saigō Takamori]] (1827–77) của phiên Satsuma, họ đã liên kết với các phiên [[phiên Chōshū|Chōshū]], [[tỉnh Tosa|Tosa]], và [[tỉnh Hizen|Hizen]] để lật đổ [[Mạc phủ Tokugawa]]. Okubo trở thành [[Tài vụ tỉnh (Nhật Bản|Bộ trưởng Tài chính]] và Saigo là nguyên soái lục quân; cả hai đều là các cố vấn cho Thiên hoàng. [[Kido Koin]] (1833–77) người Chōshū, học trò của [[Yoshida Shoin]], và là người đồng chủ mưu với Okubo và Saigō, trở thành Bộ trưởng Giáo dục và Chủ tịch Hội nghị các Thống đốc và thúc đẩy một chính thể đai nghị. Một người nổi bật nữa là [[Iwakura Tomomi]] (1825–83), người Kyoto chống lại Tokugawa và sẽ là Đại sứ đầu tiên tại [[Hoa Kỳ]], và [[Okuma Shigenobu]] (1838–1922), người Hizen, từng học tập [[Rangaku]], [[tiếng Trung Quốc]],và [[tiếng Anh]], người giữ nhiều chức Bộ trưởng, cuối cùng trở thành [[Thủ tướng Nhật Bản|Thủ tướng]] năm 1898.
 
Để hoàn thành mục đích của trật tự mới, các đầu sỏ chính trị bắt đầu giải thể [[4 tầng lớp xã hội]] qua hàng loạt các cải cách kinh tế và xã hội. Thu nhập của [[Mạc phủ]] dựa vào thuế địa tô từ đất của nhà Tokugawa và các daimyo khác, các khoản vay từ các nông dân giàu có và miễn cưỡng chấp nhận các khoản vay nước ngoài. Để gia tăng thu nhập và phát triển cơ sở hạ tầng, chính quyền mới cấp tiền nâng cấp cảng biển, hải đăng, nhập khẩu máy móc, trường học, và du học cho sinh viên, lương cho [[O-yatoi gaikokujin|cố vấn và giáo viên nước ngoài]], hiện đại hóa [[Lục quân Đế quốc Nhật Bản|lục quân]] và [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản|hải quân]], mạng lưới đường sắt và điện tín, và các phái đoàn ngoại giao nước ngoài, ví dụ như [[phái đoàn Iwakura]].
 
Thời kỳ khó khăn kinh tế, biểu thị bằng các cuộc bạo động ngày càng gia tăng về vấn đề ruộng đất, dẫn đến lời kêu gọi cải cách xã hội. Thêm và các khoản tiền thuê cao, thuế, và lợi tức, các công dân bình thường còn phải đối mặt với việc trả tiền mặt cho [[Cải cách địa tô (Nhật bản 1873)|các loại thuế mới]], chế độ [[nghĩa vụ quân sự]], và tiền học phí cho chế độ giáo dục bắt buộc mới ban hành. Người dân cần thêm thời gian để and tuition charges for the newly introduced compulsory education. The people needed more time for productive pursuits while correcting social abuses of the past. Để đạt được những cải cách này, hệ thống đẳng cấp cũ thời Tokugawa với samurai, nông dân, thợ thủ công và thương nhân bị dỡ bỏ năm 1871, và, kể cả khi thiên kiến cũ và ý thức địa vị vẫn còn, tất cả, trên lý thuyết, đều bình đẳng trước pháp luật. Để giúp thực tế không quên sự phân biệt xã hội, chính quyền mới đặt tên cho các tầng lớp xã hội: các daimyo cũ trở thành quý tộc, chiến binh samurai trở thành người có địa vị cao ngay dưới tầng lớp quý tộc, và những người khác là dân thường. Tiền trợ cấp cho damiyo và samurai được trả thành một khoản, và samurai sau này mất đi đặc quyền được tham gia vào các đơn vị quân đội. Các cựu samurai theo đuổi các nghề khác như: viên chức, giáo viên, sĩ quan quân đội, viên chức cảnh sát, nhà báo, học giả, người đi khai hoang ở phía Bắc Nhật Bản, chủ ngân hàng, và thương gia. Những nghề nghiệp này giúp ngăn chặn bớt sự bất mãn mà tầng lớp lớn này cảm nhận; một số kiếm lời lớn, nhưng nhiều người không thành công và trở thành những người đối lập quan trọng những năm sau này.
 
[[Cuộc khủng hoảng Triều Tiên năm 1873]] dẫn đến việc vị tướng nổi tiếng Saigō và Cố vấn Nhà nước [[Eto Shimpei]] (1834–74). Eto, người thành lập rất nhiều tổ chức ái quốc, âm mưu với các phần tử bất mãn khác khởi động một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại quân đội triều đình tại [[Saga, Saga|Saga]], thủ phủ phiên nhà của ông tại Kyūshū năm 1874. Được giao nhiệm vụ dập tắt cuộc nổi loạn, Okubo nhanh chóng đánh bại Eto, người đã không giành được sự giúp đỡ của Saigō. 3 năm sau, cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn cuối cùng - nhưng là thử thách lớn nhất với chính quyền MeijiMinh Trị - [[nổiChiến loạntranh SatsumaTây Nam (Nhật Bản)|bùng nổ]], lần này Saigo đóng một vai trò quan trọng. [[Nổi loạn Saga]] và nhiều cuộc nổi loạn của samurai và nông dân khác để chống lại các cải cách của chính quyền MeijiMinh Trị dễ dàng bị quân đội đập tan. Tuy vậy, các cựu samurai phiên Satsuma rất đông, và họ có truyền thống lâu dài chống lại chính quyền trung ương. Saigo, với một chút miễn cưỡng và chỉ sau khi có thêm nhiều sự bất mãn với các cải cách của chính quyền, dấy binh nổi loạn năm [[1877]]. Cả hai bên đều chiến đấu tốt, nhưng vũ khí hiện đại và tài chính tốt hơn của lựcquân lượngtriều chính phủđình đã chấm dứt cuộc nổichiến loạntranh SatsumaTây Nam. Mặc dù bị đánh bại và tự sát, Saigo vẫn không bị coi là một tên phản tặc và trở thành một nhân vật anh hùng trong [[lịch sử Nhật Bản]]. Sự thất bại của nổi loạn Satsuma đánh dấu sự kết thúc những đe dọa với chính quyền MeijiMinh Trị nhưng làm các đầu sỏ chính trị tỉnh ngộ. Cuộc chiến hút hết ngân khố, dẫn đến lạm phát nghiêm trọng, và khiến giá trị đất đai - và khoản thuế rất cần thiết - giảm xuống. Quan trọng nhất là, những lời kêu gọi cải cách được thay đổi.
 
==Tham khảo==