Khác biệt giữa các bản “Đường Văn Tông”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Trung và hậu kì Thái Hòa (830 - 835): clean up, General fixes using AWB)
| thêm = china
| hình =
| chức vị = [[Hoàng đế]] [[nhà Đường]]
| tại vị = [[13 tháng 1|13/1]]/, [[827]] – [[10 tháng 2|10/2]]/, [[840]]<ref>''Ghi chú chung'': Ngày tháng tại đây lấy theo [[lịch Julius]]. Nó không phải là [[lịch Gregory đón trước]].</ref>
| kiểu tại vị = Trị vì
| tiền nhiệm = <font color="grey">[[Đường Kính Tông]]</font>
| tên đầy đủ = Lý Hàm (李涵)<br>Lý Ngang (李昂)
| kiểu tên đầy đủ = Tên thật
| niên hiệu = Thái Hòa (大和; 827-835)<br>Khai Thành (开成; 836-840)
| thời gian của niên hiệu =
| miếu hiệu = [[Văn Tông]] (文宗)
| thụy hiệu = Đầy đủ: Nguyên thánhThánh Chiêu hiếnHiến Hiếu hoàng đế <br>(元圣昭献孝皇帝)
| cha = [[Đường Mục Tông]]
| mẹ = [[Trinh Hiến hoàng hậu Tiêu thị]]
| sinh = [[20 tháng{{ngày sinh|809|11]], [[809]]|20}}
| mất = {{ngày mất và tuổi|840|2|10|809|11|20}}
| nơi mấtan táng = [[TrungChương Quốclăng]] (章陵)
| nơi an táng = Chương lăng
}}
 
'''Đường Văn Tông''' ([[chữ Hán]]: 唐文宗, [[bính âm]]: Tang Wenzong,; [[20 tháng 11]], năm [[809]] - [[10 tháng 2]], năm [[840]]<ref>[https://en.wikipedia.org/wiki/Academia_Sinica Academia Sinica]</ref>), thụy hiệu đầy đủ là '''Nguyên Thánh Chiêu Hiến Hiếu hoàng đế''' (元圣昭献孝皇帝), tên thật là '''Lý Hàm''' (李涵) hay '''Lý Ngang''' (李昂), là vị [[hoàng đế]] thứ 15 hay 17<ref>Trước đó hai vị vua Đường Trung Tông và Đường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục</ref> của triều đại [[nhà Đường]] trong [[lịch sử Trung Quốc]]. Ông ở ngôi từ năm [[827]] đến khi qua đời năm [[840]], tổng 13 năm.
 
Trong Hàmthời gian con trai thứ hai của [[Đường MụcVăn Tông]] Lý Hằng, mẹ là Tiêu thị. Ban đầu ông được phong tước vị Giang vương. Sau cái chết của anh trai là [[Đường Kính Tông]] Lý Đam (827), Lý Hàm được bọn hoạn quan [[Vương Thủ Trừng]] ủng hộ lên ngôi, cải tên là Lý Ngang. Trong thời gian ở ngôi, nạn hoạn quan lộng quyền - vốn manh nha từ thời [[Đường Đại Tông|Đại Tông]], [[Đường Đức Tông|Đức Tông]] đã ngày càng khó kiềm chế. Đường Văn Tông mặt dù rất cố gắng để hạn chế quyền lực của [[hoạn quan]] nhưng cuối cùng thất bại. Cũng trong những năm này, phiên trấn các nơi cũng liên tiếp nổi dậy. Sau chính[[Sự biến Cam Lộ]] (năm [[835]]) ông hầu như đã bị [[hoạn quan]] kiểm soát và từ đó thì sống trong tâm trạng u uất và tuyệt vọng cho đến khi qua đời năm [[841]], có thuyết cho rằng Văn Tông bị hoạn quan sát hại.
 
== TrướcThân khi lên ngôithế ==
Đường Văn Tông bổn danh '''Lý Hàm''' (李涵), chào đời vào ngày [[20 tháng 11]] năm [[809]] dưới thời ông nội [[Đường Hiến Tông]] Lý Thuần ở ngôi. Khi đó, cha ông là [[Đường Mục Tông]] Lý Hựu vẫn đang giữ tước vị '''Toại vương'''<ref>''[[Cựu Đường thư]]'', [[:zh:s:舊唐書/卷16|quyển 16]]</ref>, chưa được phong làm hoàng tháiThái tử<ref>Hiến Tông ban đầu lập con cả [[Lý Ninh]] làm thái tử mặc dù Lý Hựu mới là con của vợ đích, đến năm 812 Lý Ninh qua đời thì Lý Hựu mới trở thành thái tử</ref>. Ông chào đời bốn tháng sau người anh là [[Đường Kính Tông]] Lý Đam ([[22 tháng 7]] năm đó). Mẹ Lý Hàm là Tiêu thị, người đất Mân, về sau được truy phong Trinh Hiến hoàng hậu<ref name=CDT17>''[[Cựu Đường thư]]'', [[:zh:s:舊唐書/卷17|quyển 17]].</ref>.
 
Năm [[820]], [[Đường Hiến Tông]] mất, Lý Hựu (lúc này đã đổi tên thành Lý Hằng) lên ngôi, tức là [[Đường Mục Tông]]. Năm sau, [[821]], Mục Tông phong vương cho một số em trai và con trai của mình, trong đó Lý Hàm được phong làm '''Giang vương''' (江王)<ref>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷241|quyển 241]]</ref>. Năm [[824]], Mục Tông băng, người anh cả của Lý Hàm là Lý Đam nối ngôi, tức [[Đường Kính Tông]]]<ref>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷242|quyển 242]]</ref>. Đến ngày [[9 tháng 1]] năm [[827]], Kính Tông bị bọn hoạn quan [[Lưu Khắc Minh]], [[Điền Vụ Trừng]], [[Hứa Văn Đoan]], [[Tô Tá Minh]]... sát hại.
Lý Hàm chào đời vào ngày [[20 tháng 11]] năm 809 dưới thời ông nội [[Đường Hiến Tông]] Lý Thuần ở ngôi. Khi đó, cha ông là [[Đường Mục Tông]] Lý Hựu vẫn đang giữ tước vị Toại vương<ref>''[[Cựu Đường thư]]'', [[:zh:s:舊唐書/卷16|quyển 16]]</ref>, chưa được phong làm hoàng thái tử<ref>Hiến Tông ban đầu lập con cả [[Lý Ninh]] làm thái tử mặc dù Lý Hựu mới là con của vợ đích, đến năm 812 Lý Ninh qua đời thì Lý Hựu mới trở thành thái tử</ref>. Ông chào đời bốn tháng sau người anh là [[Đường Kính Tông]] Lý Đam (22 tháng 7 năm đó). Mẹ Lý Hàm là Tiêu thị, người Mân, về sau được truy phong Trinh Hiến hoàng hậu<ref name=CDT17>''[[Cựu Đường thư]]'', [[:zh:s:舊唐書/卷17|quyển 17]].</ref>
 
Năm [[820]], [[Đường Hiến Tông]] mất, Lý Hựu (lúc này đã đổi tên thành Lý Hằng) lên ngôi, tức là [[Đường Mục Tông]]. Năm sau, [[821]], Mục Tông phong vương cho một số em trai và con trai của mình, trong đó Lý Hàm được phong làm Giang vương]<ref>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷241|quyển 241]]</ref>. Năm [[824]], Mục Tông băng, người anh cả của Lý Hàm là Lý Đam nối ngôi, tức [[Đường Kính Tông]]]<ref>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷242|quyển 242]]</ref>. Đến ngày [[9 tháng 1]] năm [[827]], Kính Tông bị bọn hoạn quan [[Lưu Khắc Minh]], [[Điền Vụ Trừng]], [[Hứa Văn Đoan]], [[Tô Tá Minh]]... sát hại. [[Lưu Khắc Minh]] muốn khống chế triều đình và đưa con trai của [[Đường Hiến Tông]] là Giáng vương [[Lý Ngộ]] làm hoàng đế. Ngày [[10 tháng 1]], Khắc Minh giả di chiếu, đưa Giáng vương ra gặp chư tể tướng. Bọn Khắc Minh lại bố trí tay chân nắm giữ cung điện, mưu trừ các hoạn quan khác. Nhóm hoạn quan gồm Xu mật sứ [[Vương Thủ Trừng]], Trung úy [[Lương Thủ Khiêm]], [[Ngụy Tòng Gián]]... nghe tin có biến động, bèn tập hợp binh lính tiến vào cung diệt tặc, đồng thời cho đón Lý Hàm vào cung. Cuối cùng quân Thần Sách của Vương Thủ Trừng và quân Phi Long giết chết hết bọn loạn đảng Lưu Khắc Minh, Giáng vương Ngộ cũng chết trong loạn quân<ref name=ZZTJ243>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷243|quyển 243]].</ref>.
 
Ngày [[11 tháng 1]] (Quý Mão), hoạn quan lấy lệnh của Thái hoàng thái hậu Quách thị cho [[Bùi Độ]] làm nhiếp trùng tể, bách quan yết kiến Giang vương Hàm ở tử thần ngoại vũ, Giang vương bật khóc trong buổi gặp hôm đó. Ngày [[13 tháng 1]] (Quý Tị), Lý Hàm chính thức lên ngôi, tức là '''Đường Văn Tông'''.<ref name=CDT17 /><ref name=ZZTJ243 />, đổi tên là '''Lý Ngang''' (李昂). Năm đó ông mới 18 tuổi.
 
== LàmĐại Đường hoàng thượngđế ==
=== Sơ kì Thái Hòa (827 - 829) ===
Ngày [[16 tháng 1]] (Mậu Thân), Văn Tông tôn mẹ là Tiêu thị làm hoàng[[Hoàng thái hậu]], mẹ của Kính Tông là Vương thị làm [[Tiêu Thái hậu (Nhà Đường)|Bảo Lịch thái hậu]]. Lúc đó, thái[[Ý An hoàng hậu|Thái hoàng thái hậu Quách thị (bà của Văn Tông)]] được bố trí ở cung [[Hưng Khánh cung]], Vương thái hậu ở Điện [[Nghĩa An, điện]] còn Tiêu thái hậu sống ở đại nội. Văn Tông vốn tính hiếu thuận, phụng sự ba cung đều như nhau. Mỗi khi các nơi tiến công kì trân dị vật thì trước đưa đến tông miếu, tiếp đó dâng đến ba cung còn dư thừa mới để tự mình chi dùng<ref name=ZZTJ243 />. Không lâu sau, ông phong cho Hàn Lâm học sĩ [[Vi Xử Hậu]] làm ''Trung thư thị lang'', ''Đồng bình chương sự (tể[[Tể tướng]]).
 
Ngày [[16 tháng 1]] (Mậu Thân) tôn mẹ là Tiêu thị làm hoàng thái hậu, mẹ của Kính Tông là Vương thị làm Bảo Lịch thái hậu. Lúc đó, thái hoàng thái hậu Quách thị (bà của Văn Tông) được bố trí ở cung Hưng Khánh, Vương thái hậu ở Điện Nghĩa An, Tiêu thái hậu sống ở đại nội. Văn Tông vốn tính hiếu thuận, phụng sự ba cung đều như nhau. Mỗi khi các nơi tiến công kì trân dị vật thì trước đưa đến tông miếu, tiếp đó dâng đến ba cung còn dư thừa mới để tự mình chi dùng<ref name=ZZTJ243 />. Không lâu sau, ông phong cho Hàn Lâm học sĩ [[Vi Xử Hậu]] làm Trung thư thị lang, Đồng bình chương sự (tể tướng).
 
Văn Tông lại thấy rằng qua hai triều Mục Tông, Kính Tông, do sự xa xỉ của các hoàng đế khiến quốc khố cạn kiệt, vì thế ngay khi lên ngôi đã chủ trương tiết kiệm và tỏ ra cần mẫn trong việc xử lí công việc triều chính. Ông cho phép những cung nữ nào chưa được triệu hạnh có thể về quê với gia đình, tổng cộng được khoảng 3000 người. Thấy tân chủ mới lên ngôi đã làm những việc thuận lòng người, trong ngoài náo nức đón chờ một thời đại thái bình mới. Tuy nhiên Văn Tông mặc dù bên ngoài khuyến khích việc triều thần can gián, nhưng bản chất lại là con người thiếu quyết đoán. Mỗi khi cùng các tể tướng bàn định việc gì, cũng thường hay thay đổi ý kiến. Như tháng 4 ÂL năm 827, [[Vi Xử Hậu]] bàn luận công việc với Văn Tông ở Diên Anh Cực, nhân bất đồng ý kiến đã xin từ chức, Văn Tông không chấp nhận, cố sức giữ lại.
 
=== Qua đời ===
Mẹ tháiThái tử Vĩnh là Vương Đức phi không được Văn Tông sủng ái rồi bị [[Dương Hiền phi]] và gièm pha và chết. Thái tử Vĩnh lại thích vui chơi yến tiệc, gần tiểu nhân, nên cũng bị Hiền phi tìm cơ hãm hại. Trong năm [[838]], Văn Tông từng cho giam lỏng Lý Vĩnh và tính việc phế truất, nhưng nhờ sự can thiệp của đội quân Thần Sách mà ông đã bỏ ý định. Nhưng Lý Vĩnh lại chết trong năm đó, thụy là Trang Khác<ref name=ZZTJ246 />, có lời đồn chính Văn Tông đã sai người giết chết con của mình.
 
Sau khi tháiThái tử chết, Hiền phi đề nghị lập em trai của Văn Tông là Yên vương [[Lý Dung]] làm hoàng''Hoàng thái đệ''. Văn Tông đem việc này ra bàn luận với các tể tướng và [[Lý Giác]] phản đối. Do đó, Văn Tông quyết định lập con nhỏ của Đường Kính Tông là [[Lý Thành Mĩ]] làm hoàng tháiThái tử mới. Từ năm [[839]], bệnh tình của Văn Tông ngày một trở nặng hơn do ám ảnh về cái chết của Trang Khác thái tử Lý Vĩnh. Mùa xuân năm [[840]], bệnh tình trở nặng, Văn Tông sai các hoạn quan [[Lưu Hoằng Dật]] và [[Tiết Quý Lăng]] triệu tể tướng [[Dương Tư Phục]], [[Lý Giác]] vào cung phó thác thái tử Thành Mĩ. [[Cừu Sĩ Lương]] và [[Ngưu Hoằng Chí]] không ủng hộ Thành Mĩ mà giả lệnh Văn Tông, lấy cớ thái tử còn nhỏ, triệu hoàng đệ Dĩnh vương Triền vào cung lập làm hoàng thái đệ, giáng Thành Mĩ là Trần vương. Bách quan yết kiến Dĩnh vương ở Tư Hiền điện. Ngày [[10 tháng 2]] (Tân Tị), Văn Tông mất ở Thái Hòa điện. Các hoạn quan lấy Dương Tư Phục nhiếp trùng tể. Theo đề nghị của Cừu Sĩ Lương, Dĩnh vương Triền cho ép chết Trần vương Thành Mĩ, Yên vương Dung và Dương Hiền phi. Cừu Sĩ Lương vốn oán Văn Tông nên sau khi ông chết đã cho trục xuất hết nhạc công và nội thị gần gũi với ông. Ngày [[20 tháng 2]] (Tân Mão), Dĩnh vương Triền lên ngôi, tức là [[Đường Vũ Tông]]<ref name=ZZTJ246 /><ref>''[[Cựu Đường thư]]'', quyển 18</ref>.
Mẹ thái tử Vĩnh là Vương Đức phi không được Văn Tông sủng ái rồi bị Dương Hiền phi và gièm pha và chết. Thái tử Vĩnh lại thích vui chơi yến tiệc, gần tiểu nhân, nên cũng bị Hiền phi tìm cơ hãm hại. Trong năm [[838]], Văn Tông từng cho giam lỏng Lý Vĩnh và tính việc phế truất, nhưng nhờ sự can thiệp của đội quân Thần Sách mà ông đã bỏ ý định. Nhưng Lý Vĩnh lại chết trong năm đó, thụy là Trang Khác<ref name=ZZTJ246 />, có lời đồn chính Văn Tông đã sai người giết chết con của mình.
 
Ngày [[20 tháng 2]] (Tân Mão), Dĩnh vương Triền lên ngôi, tức là [[Đường Vũ Tông]]<ref name=ZZTJ246 /><ref>''[[Cựu Đường thư]]'', quyển 18</ref>. Đường Văn Tông được dâng [[thụy hiệu]] đầy đủ là '''Nguyên Thánh Chiêu Hiến Hiếu hoàng đế''' (元圣昭献孝皇帝), an táng tại [[Chương lăng]] (章陵).
Sau khi thái tử chết, Hiền phi đề nghị lập em trai của Văn Tông là Yên vương Lý Dung làm hoàng thái đệ. Văn Tông đem việc này ra bàn luận với các tể tướng và Lý Giác phản đối. Do đó Văn Tông quyết định lập con nhỏ của Kính Tông là [[Lý Thành Mĩ]] làm hoàng thái tử mới. Từ năm [[839]], bệnh tình của Văn Tông ngày một trở nặng hơn do ám ảnh về cái chết của Trang Khác thái tử Lý Vĩnh. Mùa xuân năm [[840]], bệnh tình trở nặng, Văn Tông sai các hoạn quan [[Lưu Hoằng Dật]] và [[Tiết Quý Lăng]] triệu tể tướng [[Dương Tư Phục]], [[Lý Giác]] vào cung phó thác thái tử Thành Mĩ. [[Cừu Sĩ Lương]] và [[Ngưu Hoằng Chí]] không ủng hộ Thành Mĩ mà giả lệnh Văn Tông, lấy cớ thái tử còn nhỏ, triệu hoàng đệ Dĩnh vương Triền vào cung lập làm hoàng thái đệ, giáng Thành Mĩ là Trần vương. Bách quan yết kiến Dĩnh vương ở Tư Hiền điện. Ngày [[10 tháng 2]] (Tân Tị), Văn Tông mất ở Thái Hòa điện. Các hoạn quan lấy Dương Tư Phục nhiếp trùng tể. Theo đề nghị của Cừu Sĩ Lương, Dĩnh vương Triền cho ép chết Trần vương Thành Mĩ, Yên vương Dung và Dương Hiền phi. Cừu Sĩ Lương vốn oán Văn Tông nên sau khi ông chết đã cho trục xuất hết nhạc công và nội thị gần gũi với ông. Ngày [[20 tháng 2]] (Tân Mão), Dĩnh vương Triền lên ngôi, tức là [[Đường Vũ Tông]]<ref name=ZZTJ246 /><ref>''[[Cựu Đường thư]]'', quyển 18</ref>.
 
== Câu nói nổi tiếng ==
:''Xưa kia các vua [[Chu Noản vương|Noản vương đời Chu]] và [[Hán Hiến Đế|Hiến Đế đời Hán]] bị cường thần bức hiếp, còn trẫm lại bị chính bọn nô lệ (tức [[hoạn quan]]) bức hiếp. Xét về điểm này thì trẫm cũng đã thua họ rồi''.<ref name=ZZTJ246 />
 
==Niên hiệu==
Dưới đây là các [[niên hiệu]] của Đường Văn Tông (niên hiệu, chữ Hán, bính âm, khoảng thời gian)
*Thái Hòa (Tài hé 太和) 827-835
*Khai Thành (開成 Kāi chéng) 836-840
 
== Gia quyến ==
* Thân phụ: [[Đường Mục Tông]] Lý Hằng.
* Thân mẫu: [[Trinh Hiến hoàng hậu]] Tiêu thị (貞獻皇后蕭氏, ? - 847), nguyên quán huyện Mân, sơ phong Thị thiếp.
* Hậu phi:
# [[Vương Đức phi]] (王德妃, ? - 838), từ vị ''Chiêu nghi'' (昭仪) thăng làm ''Đức phi'' (德妃).
# [[Dương hiền phi (Đường Văn Tông)|Dương Hiền phi]] (楊賢妃, ? - 840).
# Quách thị (郭氏), cháu gái Quách thái hoàng thái hậu, bị trả về.
 
* ConHoàng cáitử:
# Lỗ vương → Hoàng thái tử → Trang Khác thái tử [[Lý Vĩnh]] [莊恪太子李永], con của Vương Đức phi.
**Con trai
# Tương vương [[Lý Tông Kiệm]] [蒋王李宗俭].
# Lỗ vương → Hoàng thái tử → Trang Khác thái tử [[Lý Vĩnh]] [李永], con của Vương Đức phi.
 
# Tương vương [[Lý Tông Kiệm]] [李宗俭].
**Con gái:Hoàng Đường Văn Tông có 4 con gáinữ<ref>[http://guoxue.baidu.com/page/d0c2ccc6cae9/95.html Tân Đường thư: Chư đế công chúa liệt truyện]</ref>:
# [[Công chúa Hưng Đường công chúa]] (兴唐公主).
# [[Công chúa Tây Bình công chúa]] (西平公主).
# [[Công chúa Lang Ninh công chúa]] (郎宁公主), mất niên hiệu Hàm Thông).
# [[Công chúa Quang Hóa công chúa]] (光化公主), mất niên hiệu Quảng Minh).
 
== Chú thích ==
2.267

lần sửa đổi