Khác biệt giữa các bản “Võ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung”

không có tóm lược sửa đổi
Bắc Minh Thần Công là một loại thượng thừa nội công tâm pháp trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Có nguồn gốc từ phái Tiêu Dao được Đoàn Dự phát hiện cùng lúc với Lăng Ba Vi Bộ. Đây là một môn nội công có tác dụng hút nội lực của người khác để cho bản thân sử dụng. Toàn bộ Bắc Minh Thần Công gồm 36 bức hình dùng để miêu tả. Có ba người học được bộ võ công này là Vô Nhai Tử, Đoàn Dự, Hư Trúc. Trong đó, chỉ có Vô Nhai Tử là học xong toàn bộ còn Đoàn Dự chỉ học xong bức đầu tiên, Hư Trúc thì chỉ nhận được cách vận khí từ Thiên Sơn Đồng Mỗ.
 
=== Hóa công đại pháp ===
Hóa Công Đại Pháp là một môn nội công trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, khởi nguồn từ Bắc Minh Thần Công. Hóa Công Đại Pháp được sáng tạo bởi Đinh Xuân Thu, bộ võ công này có mục đích là làm suy yếu nội lực của đối phương nhưng không thể đem nội lực của đối phương để cho bản thân sử dụng. Hóa Công Đại Pháp nguyên lý là hút chất độc từ các loài độc vật vào cơ thể sau đó đánh vào cơ thể của đối thủ để hóa giải đi nội công của đối thủ. Bộ võ công này khuyết điểm là phải hút chất độc hằng ngày để luyện công và cần dùng Thần Mộc Vương Đỉnh để luyện công. Đây cũng là nguyên nhân khi A Tử đánh cắp Thần Mộc Vương Đỉnh khiến cho Đinh Xuân Thu từ Tinh Túc phải trở về trung nguyên.
 
=== Hấp tinh đại pháp ===
Hấp Tinh Đại Pháp là một môn nội công trong truyện Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung. Bộ võ công này dùng để hút nội lực của người khác để cho chính mình dùng hoặc đem nội lực của người khác xóa bỏ. Có nhiều nhận định cho rằng Hấp Tinh Đại Pháp bắt nguồn từ Bắc Minh Thần Công, đều có chung nguyên lý hút nội công của người khác làm của mình. Bộ võ công này có những chỗ thiếu hụt là:
* Phải tán đi toàn bộ công lực trong cơ thể không còn có chút chân khí nào nếu như tán không hết hoặc là nội lực đi nhầm thì sẽ tẩu hỏa nhập ma. Nhẹ thì toàn thân tê liệt, nặng thì kinh mạch nghịch chuyển mà chết.
* Lúc bắt đầu hấp thu sẽ không có cảm giác gì nhưng mà về sau thì những nội lực được hút vào cơ thể có thể sẽ đột nhiên cắn trả hút vào càng nhiều thì cắn trả càng mạnh.
 
Để thoát khỏi nội lực cắn trả thì chỉ có thể như Nhậm Ngã Hành tự tìm ra cách để áp chế hoặc là dùng Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm để hóa giải. Tuy nhiên cách áp chế như Nhậm Ngã Hành thì khi áp chế người dùng không nên dùng võ công hay suy nghĩ lao lực nữa. Nhậm Ngã Hành khi ra khỏi Tây Hồ thì không lúc nào không nghĩ đến việc báo thù và xưng bá võ lâm, nên cuối cùng cũng bị cắn trả mà hao hết tâm lực, bị đột quỵ mà chết. Chỉ có cách dùng Dịch Cân Kinh mới hoàn toàn hóa hết chân khí dụ chủng.
 
== Bát Hoang Lục Hợp Duy Ngã Độc Tôn Công ==
 
==Cáp Mô Công==
Theo truyện [[Anh hùng xạ điêu]], Cáp Mô Công là công phu mà [[Tây Độc]] Âu Dương Phong nhiều năm khổ luyện. Cáp Mô nghĩa là con cóc, nên công phu này mô phỏng con cóc đang ngồi chuẩn bị nhảy. Cáp Mô Công của Âu Dương Phong chuyên lấy tĩnh chế động, y toàn thân vận kình chứa thế, nén khí không phát, chỉ cần địch nhân ra chiêu tấn công sẽ lập tức phát đòn phản kích mãnh liệt không gì bằng.
 
== Cửu Âm Chân Kinh ==
 
== Dịch Cân Kinh ==
Dịch Cân Kinh không thể nghi ngờ là môn võ công xuất hiện nhiều nhất trong tất cả tiểu thuyết Kim Dung từ [[Thiên long bát bộ|Thiên Long Bát Bộ]] tới, [[Anh hùng xạ điêu|Anh Hùng Xạ Điêu]], [[Thần điêu hiệp lữ|Thần Điêu Hiệp Lữ]], đến [[Ỷ Thiên Đồ Long ký|Ỷ Thiên Đồ Long Ký]] thậm chí còn tới [[Tiếu ngạo giang hồ|Tiếu Ngạo Giang Hồ]] cùng với cả [[Lộc Đỉnh ký|Lộc Đỉnh Ký]]. Ngoài ra Dịch Cân Kinh cùng với Tẩy Tủy Kinh là một trong 2 môn công pháp trấn phái của Thiếu Lâm Tự. Tác dụng chính của Dịch Cân Kinh chính là :dịch cân tẩy tủy, làm dịch chuyển, thay đổi gân/ cơ/ xương, dùng để chỉ dẫn cách vận khí nhằm cường thân kiện thể. Hóa giải sự xung đột của nhiều loại chân khí nếu chúng cùng tồn tại một lúc trong cơ thể điều này được ghi lại trong Tiếu Ngạo Giang Hồ. Cuối cùng quan trọng nhất là tăng lên căn cốt cùng tư chất luyện võ của một người. Nhưng môn võ công này cần cảnh giới Vô Ngã Vô Tướng trong Phật môn nên gần như là không có người luyện thành chỉ có thể xem như là một môn võ công phụ trợ. Ngoài ra chỉ có Du Thản Chi mượn nhờ sức mạnh của băng tằm luyện thành Dịch Cân Kinh nhưng lại có chứa hàn độc của băng tằm.
 
Dịch Cân Kinh là nội công tối thượng do [[Bồ-đề-đạt-ma|Đạt Ma sư tổ]] phải diện bích 9 năm mới sáng tạo ra, bản thân nó là kết tinh tinh hoa võ đạo của Đạt Ma. Bí kíp Dịch Cân Kinh được viết bằng tiếng Phạn khó hiểu, nhưng khi nhúng vào nước sẽ xuất hiện những hình ảnh một nhà sư tập những động tác tương tự như thuật [[yoga]] ngày nay. Người thường không hiểu tiếng Phạn khó luyện thành, chỉ có người có cơ duyên thấy được đồ hình mới may mắn thần công đại thành. Trong Thiên Long Bát Bộ thì bí mật này ngay cả chùa Thiếu Lâm cũng không biết, và ngay cả các cao tăng chữ Huyền cũng không ai tập được. Nhưng những tiểu thuyết có bối cảnh sau thời Tống đều nói rằng Thiếu Lâm luôn có cao thủ tập được Dịch Cân Kinh, điển hình là Phương Chứng trong Tiếu Ngạo Giang Hồ. Theo đó có thể hiểu hoặc sau đó Thiếu Lâm đã khám phá ra đồ hình, hoặc đã có cao tăng phiên dịch chữ Phạn ra chữ Hán.
== Đàn Chỉ Thần Công ==
 
Tác dụng chính của Dịch Cân Kinh chính là: dịch cân tẩy tủy, làm dịch chuyển, thay đổi gân/ cơ/ xương, dùng để chỉ dẫn cách vận khí nhằm cường thân kiện thể. Hóa giải sự xung đột của nhiều loại chân khí nếu chúng cùng tồn tại một lúc trong cơ thể điều này được ghi lại trong Tiếu Ngạo Giang Hồ. Cuối cùng quan trọng nhất là tăng lên căn cốt cùng tư chất luyện võ của một người. Nhưng môn võ công này cần cảnh giới Vô Ngã Vô Tướng trong Phật môn nên gần như là không có người luyện thành chỉ có thể xem như là một môn võ công phụ trợ. Ngoài ra chỉ có Du Thản Chi mượn nhờ sức mạnh của băng tằm luyện thành Dịch Cân Kinh nhưng lại có chứa hàn độc của băng tằm. Cưu Ma Trí vì hiểu tiếng Phạn nên cường luyện Dịch Cân Kinh, làm cho võ công không tiến mà còn lùi, chân khí chạy tán loạn trong cơ thể, bị tẩu hỏa nhập ma.
 
Trong tiểu thuyết Kim Dung, Dịch Cân Kinh được xem là nội công cao nhất, thậm chí vượt qua các loại nội công như Cửu Dương Thần Công, Cửu Âm tổng cương thiên, Bắc Minh Thần Công, Thần Chiếu Công hay Quỳ Hoa Bảo Điển.
 
== ĐànĐạn Chỉ Thần Công ==
Theo truyện [[Anh hùng xạ điêu]], Đàn Chỉ Thần Công là một trong những công phu của [[Đông Tà]] [[Hoàng Dược Sư]]. Loại công phu này sử dụng nội lực tích tụ vào lòng bàn tay, sau đó dùng ám khí hoặc những viên đá mà bắn ra. Khi bắn ra viên đá mang theo nội lực, nếu đối phương bị bắn trúng sẽ bị thương rất nặng.
 
Độc Cô Cửu Kiếm (獨孤九劍) là một bí kíp kiếm thuật tối thượng xuất hiện trong bộ [[Tiếu ngạo giang hồ]], bắt nguồn từ nhân vật không xuất hiện mang tên [[Độc Cô Cầu Bại]] và có hai nhân vật sử dụng thành thục là [[Nhân vật trong Tiếu ngạo giang hồ#Phong Thanh Dương|Phong Thanh Dương]] và [[Lệnh Hồ Xung]]. Độc cô cửu kiếm được coi là triết lý đặc sắc của [[Đạo giáo|Đạo gia]] đề cao việc sử dụng kiếm thuật một cách linh hoạt theo phương châm ''"Dùng vô chiêu thắng hữu chiêu"''.
 
Độc Cô Cửu Kiếm được tạo ra bởi [[Độc Cô Cầu Bại|Độc cô cầu bại]], nhân vật chưa bao giờ xuất hiện thật sự trong các tiểu thuyết của [[Kim Dung]], mà chỉ xuất hiện qua các [[thần thoại|huyền thoại]] bởi lời kể của các nhân vật khác về một cao thủ có [[võ thuật|võ công]] đạt mức [[lư hỏa thuần thanh]] do năm xưa tự mình sáng chế để tiêu diệt kẻ thù đã hại chết cha mẹ mình là [[Bạch Thành Trung]], đặc biệt là trình độ kiếm thuật cao siêu không ai địch nổi. Ông ta tung hoành giang hồ suốt một đời mà không từng bị thất bại, không tìm được đối thủ của mình. Ông ta cô độc cho đến chết mà chỉ mong được một lần bại trận bởi đối thủ nên có tên là [[Độc Cô Cầu Bại|Độc cô cầu bại]]. Tuy nhiên, đôi khi cũng có thể hiểu chính những người sử dụng [[Võ thuật trong truyện Kim Dung#Độc cô cửu kiếm|Độc cô cửu kiếm]] là những ''"Độc cô cầu bại"''. Nhân vật Độc cô Cầu bại xuất hiện qua lời kể của [[Nhân vật trong Tiếu ngạo giang hồ#Phong Thanh Dương|Phong Thanh Dương]] trong tiểu thuyết [[Tiếu ngạo giang hồ]] và trong tiểu thuyết [[Thần điêu hiệp lữ]] khi con thần điêu (người bạn còn sống sót của [[Độc Cô Cầu Bại|Độc cô Cầu bại]]) đưa [[Dương Quá]] đến mộ Độc cô cầu bại và qua đó học được triết lý kiếm thuật của Độc cô. Tuy nhiên, qua miêu tả về kiếm pháp của [[Dương Quá]] trong tiểu thuyết [[Thần điêu hiệp lữ|Thần điêu đại hiệp]] và kiếm pháp của Độc cô cửu kiếm trong tiểu thuyết [[Tiếu ngạo giang hồ]], ta có thể rút ra nhận xét đây là hai môn võ công có nhiều điểm khác biệt, thậm chí theo một số nhận xét là hoàn toàn tương phản. Do vậy giả thuyết cho rằng Độc cô cửu kiếm là kiếm pháp đơn thuần được ủng hộ hơn cả.
 
Theo lời của [[Nhân vật trong Tiếu ngạo giang hồ#Phong Thanh Dương|Phong Thanh Dương]], [[Võ thuật trong truyện Kim Dung#Độc cô cửu kiếm|Độc cô cửu kiếm]] có 9 nguyên lý chính:
Lăng Ba Vi Bộ là dựa vào Chu Dịch 64 quẻ phương vị mà diễn biến thành. Lúc chiến đấu dựa vào bộ pháp này khiến cho đối thủ không có cách nào đánh trúng bản thân. Mặt khác Lăng Ba Vi Bộ có thêm một loại công dụng là khi bước chân chạy hết 64 quẻ tức là đúng một chu thiên thì nội tức cũng đã vận chuyển được một vòng. Vì vậy mỗi khi đi một vòng thì nội lực lại có tiến triển.
 
==Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng (Đào Hoa Lạc Anh Chưởng)==
Theo truyện [[Anh hùng xạ điêu]], Lạc Anh kiếm pháp là một bộ kiếm pháp của một môn phái mà trước kia [[Đông Tà]] [[Hoàng Dược Sư]] theo học. Đông Tà trước khi lấy mẹ của [[Hoàng Dung]] đã từng có một người yêu đó là con gái của sư phụ mình,do có mâu thuẫn với sư phụ của mình,nên sư phụ ông không gã con gái mình cho Đông Tà,vì quá buồn nên cô con gái của sư phụ Đông Tà đã tự sát, Đông Tà trong lúc giận dữ đã xóa sổ môn phái mà mình đã theo học, và lấy bộ kiếm pháp Lạc Anh làm võ thuật riêng của mình. Trong bản sửa đổi năm 2003, Kim Dung đã đổi tên Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng thành Đào Hoa Lạc Anh Chưởng
 
 
== Lục Mạch Thần Kiếm ==
Lục mạch thần kiếm danh xưng " Thiên hạ đệ nhất kiếm " là tên một loại tuyệt kỹ võ công xuất hiện trong [[Thiên long bát bộ|truyện kiếm hiệp]] của [[Kim Dung]],. Nó là tuyệt kỹ sử dụng kiếm khí (vô hình) phóng ra từ đầu ngón tay để sát thương đối thủ. Ngoài trừ người sáng tạo là vua khai quốc của [[Vương quốc Đại Lý|Đại Lý]] Đoàn Tư Bình, nó được xem là môn võ công mạnh nhất nhưng không ai luyện được (kể cả 6 cao tăng đắc đạo Thiên Long tự) cho đến khi Đoàn Dự vô tình luyện thành công. Theo đó, đây là một trong 2 tuyệt kỹ độc môn truyền nội không truyền ngoại của nước [[Vương quốc Đại Lý|Đại Lý]]: Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch thần kiếm. Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử xuất gia của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này). Theo truyện ''[[Thiên long bát bộ]]'', nhân vật [[Đoàn Dự]] là người duy nhất có thể sử dụng trọn vẹn cả 6 mạch kiếm khí; điều kì lạ là Đoàn Dự lại là một chàng trai hào hoa, phong nhã, vốn ghét việc luyện võ công lại có thể luyện thành thần công trong khi các cao tăng của Thiên Long Tự khổ công tập luyện đều không thành. Bộ thần kiếm này được sánh ngang với [[Dịch cân kinh|Dịch Cân Kinh]] của Thiếu Lâm Tự nên nó thu hút các võ lâm cao thủ chiếm đoạt và tiêu biểu nhất là Đại Luân Minh Vương Cưu Ma Trí. Về chiêu thức, Lục mạch thần kiếm không phải là một kiếm thuật mà là loại kiếm khí. Trong ''Thiên long bát bộ'', Lục mach thần kiếm được tu luyện dựa trên cách vận hành khí tâm pháp yếu chỉ riêng rồi dùng Nhất Dương chỉ phát triển thành kiếm khí. Sáu mạch của bộ kiếm pháp này bao gồm:
 
Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử xuất gia của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này), vì uy lực của nó quá lớn nên phải tu tập Phật pháp để trung hòa. Theo truyện ''[[Thiên long bát bộ]]'', nhân vật [[Đoàn Dự]] là người duy nhất có thể sử dụng trọn vẹn cả 6 mạch kiếm khí; điều kì lạ là Đoàn Dự lại là một chàng trai hào hoa, phong nhã, vốn ghét việc luyện võ công lại có thể luyện thành thần công trong khi các cao tăng của Thiên Long Tự khổ công tập luyện đều không thành. Bộ thần kiếm này được sánh ngang với [[Dịch cân kinh|Dịch Cân Kinh]] của Thiếu Lâm Tự nên nó thu hút các võ lâm cao thủ chiếm đoạt và tiêu biểu nhất là Đại Luân Minh Vương Cưu Ma Trí. Về chiêu thức, Lục mạch thần kiếm không phải là một kiếm thuật mà là loại kiếm khí. Trong ''Thiên long bát bộ'', Lục mach thần kiếm được tu luyện dựa trên cách vận hành khí tâm pháp yếu chỉ riêng rồi dùng Nhất Dương chỉ phát triển thành kiếm khí. Sáu mạch của bộ kiếm pháp này bao gồm:
 
#Tiểu tử - Thiếu trạch kiếm (ngón út tay trái)
#Bàn thực chỉ - Thương dương kiếm (ngón trỏ tay phải)
#Mẫu chỉ - Thiếu thương kiếm (ngón cái tay trái)
Sáu mạch kiếm khí uy lực dũng mãnh phá đao chặt kiếm như ta đã thấy trong ''[[Thiên long bát bộ]] bảo kiếm của Mộ Dung Phục bị gãy nát dưới Lục Mạch Thần Kiếm chưa thành thục của Đoàn Dự . Không chỉ mạnh mà Lục Mạch Thần Kiếm còn rất nhanh. Khiến đối thủ đã không nhìn thấy được mà ngay cả cảm nhận cũng vô cùng khó khăn.''
 
''Lục Mạch Thần Kiếm còn có thể dùng như một trận pháp gọi là Lục Mạch Kiếm Trận sáu người chia nhau học sáu kiếm như sáu vị cao tăng của Thiên Long Tự . Tuy nhiên Lục Mạch Kiếm Trận hoàn toàn thua xa Lục Mạch Thần Kiếm .''
 
Muốn luyện thành bộ võ công này có 2 cách:
''Lục Mạch Thần Kiếm còn có thể dùng như một trận pháp gọi là Lục Mạch Kiếm Trận sáu người chia nhau học sáu kiếm như sáu vị cao tăng của Thiên Long Tự . Tuy nhiên Lục Mạch Kiếm Trận hoàn toàn thua xa Lục Mạch Thần Kiếm .''
* Tu luyện Nhất Dương Chỉ đến mức độ có thể xuất chỉ khí phóng ra đầu ngón tay thì được xem là nhập môn, có thể luyện được 1 mạch. Từ đó càng tu luyện lên cao để có thể sử dụng toàn bộ. Cách này rất khó luyện, ngoại trừ Đoàn Tư Bình thì chưa có ai theo cách này mà luyện thành Lục Mạch Thần Kiếm. Vì thế mà Lục Mạch Thần Kiếm có thể được xem là bản lên cấp của Nhất Dương Chỉ, nhưng thiếu đi khả năng trị thương mà uy lực sát thương lại được đề cao.
* Tu luyện nội lực đến mức cực cao, ít nhất phải có 1 giáp công lực (60 năm) trong thân. Theo đó có thể tùy ý luyện thành Lục Mạch Thần Kiếm mà không phải tu luyện Nhất Dương Chỉ. Theo cách này chỉ cần có 1 pho nội công thượng thừa thì có thể dễ dàng luyện thành Thần Kiếm. Vì nội công thượng thừa như Dịch Cân Kinh, Bắc Minh Thần Công, Cửu Dương Thần Công,... thời gian luyện ngắn nhưng có thể dễ dàng ngưng tụ nội lực như người khác tu luyện mấy thập niên.
 
==Mãn Thiên Hoa Vũ==
 
== Nhất Dương Chỉ ==
Nhất Dương Chỉ do Thái Tổ Thần Thánh Văn Vũ Hoàng Đế [[Đoàn Tư Bình,]]. Vua đầu tiên của [[vương quốc Đại Lý]] sáng tạo ra cùng với Lục Mạch Thần kiếm.{{fact|date=7-2014}} Đây được xem như là 2 võ công tuyệt kỹ của Đại Lý Đoàn Gia.{{fact|date=7-2014}} Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này).
 
Nhất Dương Chỉ xuất hiện trong truyện [[Thiên Long Bát Bộ]], Võ Lâm Ngũ Bá, [[Anh hùng xạ điêu]] và Thần điêu hiệp lữ. Trong [[Thiên Long Bát Bộ]], có vài người sử dụng thành thạo bộ chỉ pháp này là Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh, Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân cũng là thế tử nước Đại Lý(anh họ Đoàn Chính Minh) Đoàn Diên Khánh và các cao tăng của Thiên Long Tự. Trong Võ Lâm Ngũ Bá, [[Vương Trùng Dương]] đã trao đổi Tiên Thiên Công của ông lấy Nhất Dương Chỉ với Nam Đế [[Đoàn Trí Hưng]]. Với nội lực thâm hậu, [[Vương Trùng Dương]] đã sử dụng Nhất Dương Chỉ để phá Cáp Mô Công của Âu Dương Phong và làm y trọng thương. Trong [[Anh hùng xạ điêu]], Đoàn Trí Hưng là người đã sử dụng Nhất Dương Chỉ để cứu sống Hoàng Dung sau khi nàng bị bang chủ Bang Thiết Chưởng là Cừu Thiên Nhận đánh trúng. Quách Tĩnh cũng có thể sử dụng chiêu thức này, tuy không thuần thục.
 
Trong Tân Thần Điêu hiệp Lữ người sử dụng Nhất Dương Chỉ có Đoàn Hoàng gia (Nhất Đăng đại sư) và các đệ tử của ông,trong đó thành thạo nhất là đệ tử thứ tư tên Chu Tử Liễu (sử dụng Nhất Dương chỉ kết hợp với thư pháp) ngoài ra còn có các đệ tử Ngư,Tiều, Canh.
 
Nhất Dương Chỉ là yếu chỉ điểm huyệt dùng ngón tay xuất chỉ khí gây sát thương. Người sử dụng Nhất Dương Chỉ dồn nội lực vào ngón tay trỏ rồi bắn chỉ lực, tuy phạm vi tấn công nhỏ nhưng lực sát thương vô cùng cao. Nếu bị điểm huyệt bằng Nhất Dương Chỉ thì phải dùng chính Nhất Dương Chỉ để giải huyệt. Ngoài ra, Nhất Dương Chỉ còn có thể khắc chế được Cáp Mô Công của Tây Độc Âu Dương Phong.
Theo [[Chu Bá Thông]], lúc trên đào hoa đảo võ công của y vẫn còn thua kém [[Hoàng Dược Sư]], [[Hồng Thất Công]], [[Âu Dương Phong]] một bậc, nhưng đã luyện thành tuyệt kỹ Song Thủ Hỗ Bác, phân thân giáp kích, lấy hai đánh một thì thiên hạ không còn ai thắng được y nữa.
 
nguyênNguyên lý của võ công này chính là: (Nhất Tâm Nhị Dụng) -> Một suy nghĩ hai cách làm.
 
== Toàn Phong Tảo Diệp Thoái Pháp ==
Tẩy Tủy Kinh cùng với Dịch Cân Kinh là một trong 2 môn công pháp trấn phái của Thiếu Lâm Tự do Thiếu Lâm Tông Sư Đạt Ma sáng chế ra nhưng đã bị thất truyền trong thời chiến loạn.
 
tácTác dụng: có thể giúp tẩy tủy phạt cốt, được dùng để chỉ dẫn cách vận khí để trị nội thương.
 
== Thái Tổ Trường Quyền ==
 
== Thần Hành Bách Biến ==
Đây là một môn tuyệt đỉnh khinh công. Môn võ công này xuất hiện trong Lộc đỉnh ký cùng với Bích Huyết Kiếm do Mộc Tang đạo nhân của Thiết Kiếm Môn sáng tạo. Về sau lại truyền cho a[[Công chúa Trường Bình|A Cửu-Cửu Nạn]], Cửu Nạn lại truyền cho Vi Tiểu Bảo.
 
== Thấu Cốt Đả Huyệt Pháp ==
 
== Việt Nữ Kiếm Pháp ==
Thời cổ, [[Ngô (nước)|Ngô]]-[[Việt (nước)|Việt]] đánh nhau, Việt vương [[Việt Vương Câu Tiễn|Câu Tiễn]] nằm gai nếm mật nghĩ cách diệt nước Ngô, nhưng thủ hạ của [[Ngô Phù Sai|Ngô vương]] có đại tướng [[Ngũ Tử Tư]] học được binh pháp của [[Tôn Vũ|Tôn Tử]], huấn luyện sĩ tốt vô cùng tinh nhuệ.
 
Nhưng thủ hạ của Ngô vương có đại tướng Ngũ Tử Tư học được binh pháp của Tôn Tử, huấn luyện sĩ tốt vô cùng tinh nhuệ.
 
Câu Tiễn thấy quân mình võ nghệ không bằng đối phương, phiền muộn không vui. Một hôm chợt có một thiếu nữ xinh đẹp tới nước Việt, kiếm thuật vô cùng tinh diệu. Câu Tiễn cả mừng, mời nàng về dạy kiếm pháp cho quân Việt, cuối cùng dùng đó diệt nước Ngô. Gia Hưng là nơi giáp giới Ngô Việt ngày trước, hai nước đánh nhau đều lấy đó làm chiến trường, bộ Việt Nữ Kiếm Pháp này cũng từ đó lưu truyền ra thiên hạ. Chỉ là kiếm pháp mà cô gái dạy cho quân Việt ngày trước nhằm quyết thắng trên chiến trường nên chỉ chú trọng vào việc chém tướng đâm ngựa, chứ dùng để giao đấu với danh gia võ thuật trên giang hồ thì không đủ phần linh động mau lẹ.
Đến cuối thời Đường, ở Gia Hưng xuất hiện một danh gia kiếm thuật, y dựa vào yếu chỉ của kiếm pháp thời cổ mà đổi mới, trong chỗ lợi hại lại ẩn giấu thêm nhiều biến hóa phức tạp.
 
Theo truyện [[Anh hùng xạ điêu]], Hàn Tiểu Oanh, một trong Giang Nam Thất Quái, theo sư phụ học được lộ kiếm pháp ấy, tuy chưa thật tinh thông nhưng kiếm chiêu cũng đã bất phàm, cái ngoại hiệu Việt Nữ Kiếm của nàng là nhờ kiếm pháp mà được. Tuy nhiên bộ kiếm pháp này đã không được trọn vẹn, uy lực thua xa lúc A Thanh sử dụng, vì A Thanh với một cây gậy trúc trong tay mà mấy ngàn giáp sĩ 2 nước Ngô, Việt không ai ngăn được. Còn Hàn Tiểu Oanh lại là người võ công thấp nhất trong thất quái, những cao thủ hạng ba.
 
== Xà Hành Ly Phiên ==
 
== Long Tượng Bàn Nhược Công ==
Xuất xứ từ [[Anh hùng xạ điêu]] là Mật Tông chí cao vô thượng hộ pháp thần công do Kim Luân Pháp Vương tu luyện. Môn nội công này gồm mười ba tầng. Tầng thứ nhất vô cùng đơn giản dễ hiểu trong vòng 1 - 2 năm có thể luyện thành. Tầng thứ hai so với tầng thứ nhất khó gấp đôi cần 3 - 4 năm. Tầng thứ ba lại so với tầng thứ hai khó gấp đôi cần 7 - 8 năm. Các tầng sau càng ngày càng khó luyện đến tầng thứ năm trở về sau cần 30 năm thời gian trở lên. Mật Tông vì thế nên mười ba tầng Long Tượng Bàn Nhược Công chưa có người nào luyện thành. Kim Luân Pháp Vương chỉ luyện tới tầng thứ mười, trước chưa ai có, đã có thể so với Ngũ Tuyệt. Nếu môn võ công này luyện đến tầng mười một trở lên thì khó tưởng tượng được sẽ mạnh mẽ cỡ nào.
 
303

lần sửa đổi