Khác biệt giữa các bản “Nghìn lẻ một đêm”

Đã lùi lại sửa đổi thiện ý của Bùi Công Chức (thảo luận): Tác phẩm không liên quan, mang tính ăn theo. (TW)
(Sửa các lỗi chính tả, bổ sung thông tin.)
(Đã lùi lại sửa đổi thiện ý của Bùi Công Chức (thảo luận): Tác phẩm không liên quan, mang tính ăn theo. (TW))
Vào [[thế kỷ 8]], [[Bagdad|Baghdad]] trở thành một trong những thành phố quan trọng bậc nhất trên thế giới. Các nhà buôn từ [[Iran|Ba Tư]] ([[Iran]]), [[Ấn Độ]], [[châu Phi]] và [[châu Âu]] đều có mặt ở đây. Vào thời gian đó, các câu truyện dân gian (được truyền khẩu trong nhiều năm) được thu thập và biên soạn lại thành một cuốn sách.
 
Những câu chuyện trong này thường là những câu chuyện dân gian truyền khẩu. Ở đâu cũng vậy, các chuyện kể dân gian không bao giờ là công trình sáng tạo của một người và có dạng hoàn chỉnh ngay từ đầu hay trong một thời gian ngắn. Cho đến một lúc nào đấy nó được những tài năng kiệt xuất chỉnh lý, định hình lần cuối cùng, rồi được nhân dân chấp nhận coi như dạng bản cuối cùng. Những người kể chuyện rong mang những chuyện đó kể khắp nơi. Trong quá trình ấy họ gọt đẽo cách diễn tả cho thích hợp và hấp dẫn người nghe. Người ta cho rằng chính những người Ai Cập kể chuyện rong thế kỷ 12 và 13 đã làm cho các chuyện trong Nghìn lẻ một đêm thêm phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức và sáng sủa về từ ngữ. Ngôn ngữ dùng trong tập truyện này gắn với tiếng nói của các tầng lớp bình dân A Rập hơn là ngôn ngữ kinh viện thời bấy giờ.
Những người kể chuyện rong mang những chuyện đó kể khắp nơi. Trong quá trình ấy họ gọt đẽo cách diễn tả cho thích hợp và hấp dẫn người nghe. Người ta cho rằng chính những người Ai Cập kể chuyện rong thế kỷ 12 và 13 đã làm cho các chuyện trong Nghìn lẻ một đêm thêm phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức và sáng sủa về từ ngữ. Ngôn ngữ dùng trong tập truyện này gắn với tiếng nói của các tầng lớp bình dân A Rập hơn là ngôn ngữ kinh viện thời bấy giờ.
Nội dung chủ yếu của những câu truyện này bắt nguồn từ một cuốn sách Ba Tư cổ tên là ''Hazâr Afsâna'' ("Một nghìn truyện thần thoại", [[tiếng Ba Tư]]: هزارافسانه).Theo R. Niconxơn trong Lịch sử văn học A Rập, năm 956 một học giả A Rập tên là Maxađi (Masadi) đã nhắc tới tác phẩm này.
* [[Nightwish]], ''Sahara'' (2007)
* [[Abney Park (band)]], ''Scheherazade'' (2013)
 
== Mối quan hệ với bộ truyện "Nghìn lẻ một ngày"<ref>{{Chú thích web|url=https://archive.org/details/thousandonedaysc00pardrich|title=The thousand and one days; a companion to the "Arabian nights"}}</ref> ==
Một bộ chuyện có thể coi là anh em sinh đôi của Bộ truyện A Rập <nowiki>''</nowiki>Nghìn lẻ một đêm<nowiki>''</nowiki> chính là bộ truyện Ba Tư <nowiki>''</nowiki>Nghìn lẻ một ngày<nowiki>''</nowiki>. Không những do tên sách và thời gian ra đời: Mười tập <nowiki>''</nowiki>Nghìn lẻ một đêm<nowiki>''</nowiki> do nhà Đông phương học Antoine Galland dịch từ tiếng A Rập sang tiếng Pháp ra mắt bạn đọc từ 1704 đến 1711 tại Paris- sau khi Antoine Galland mất, còn ra thêm hai tập nữa; còn 5 tập của <nowiki>''</nowiki>Nghìn lẻ một ngày<nowiki>''</nowiki> do một nhà Đông phương lỗi lạc khác là Francois Pétis De La Croix thực hiện từ nguyên bản tiếng Ba Tư, cũng được xuất bản ở Paris từ 1710 đến 1712.
 
== Chú thích ==