Khác biệt giữa các bản “Khoa bảng Việt Nam”

* Vị khai khoa đầu tiên là [[Lê Văn Thịnh]], đỗ năm 1075 đời [[Lý Nhân Tông]], sau làm tới Thị lang Bộ Binh rồi Thái sư.
* Trạng nguyên đầu tiên là [[Nguyễn Quan Quang]]. Trạng nguyên cuối cùng là Trịnh Tuệ (hay Trịnh Huệ) đỗ năm 1736 đời [[Lê Ý Tông]] tại khoa [[thi Đình]] tổ chức ở phủ [[chúa Trịnh]]. Sau ông làm đến Thượng thư bộ Hình, Thừa chỉ, Tế tửu Quốc tử giám.
* Trạng nguyên trẻ nhất là Nguyễn Hiền, đỗ khoa 1247 đời [[Trần Thái Tông]] khi 13 tuổi. Có 3 Trạng nguyên già nhất cùng đỗ lúc 5065 tuổi là Vũ Tuấn Chiêu đỗ năm 1475 đời [[Lê Thánh Tông]], [[Nguyễn ĐứcNghiêu Lượng]] đỗ năm 1514 đời [[Lê Tương Dực]], [[Nguyễn Xuân Chính]] đỗ khoa 16371448 đời [[Lê ThầnNhân Tông]].
* Thám hoa đầu tiên là Vương Hữu Phùng đỗ khoa 1246 đời [[Trần Thái Tông]]. Thám hoa cuối cùng là [[Vũ Phạm Hàm]], đỗ khoa năm 1892 đời vua [[Thành Thái]].
* Thám hoa trẻ nhất là [[Đặng Ma La]] đỗ khoa 1247 đời [[Trần Thái Tông]] khi 14 tuổi; thám hoa già nhất là [[Giang Văn Minh]] đỗ khoa 1628 đời [[Lê Thần Tông]] khi 56 tuổi.
* Bảng nhãn đầu tiên là [[Phạm Văn Tuấn]] đỗ khoa thi 1246 đời [[Trần Thái Tông]]. Bảng nhãn cuối cùng là [[Vũ Duy Thanh]] đỗ khoa 1851 đời [[Tự Đức]].
* Bảng nhãn trẻ nhất là [[Lê Văn Hưu]] đỗ khoa 1247 đời [[Trần Thái Tông]], bảng nhãn già nhất là [[Nguyễn Nghi]] đỗ khoa 1637 đời [[Lê Thần Tông]] khi 61 tuổi.
* Khoa thi Tam khôi (lấy [[Trạng nguyên]], [[Thám hoa]] và [[Bảng nhãn]]) đầu tiên tổ chức năm 1247 đời [[Trần Thái Tông]]. Do [[nhà Nguyễn]] không lấy đỗ Trạng nguyên nên khoa thi lấy Thám hoa cuối cùng tổ chức năm 1892 đời vua [[Thành Thái]].
* Tiến sĩ trẻ nhất là [[Nguyễn Trung Ngạn]], đỗ năm 1304 đời [[Trần Anh Tông]] khi mới 16 tuổi. Tiến sĩ già nhất là [[Nguyễn Bình]], đỗ năm 1628 đời [[Lê Thần Tông]] khi 87 tuổi.
Người dùng vô danh