Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
→‎Đời tư và thương hiệu thời trang: replaced: (in French) → (bằng tiếng Pháp) using AWB
[[Tập tin:Sem Chanel Capel.jpg|nhỏ|trái|150px| Tranh biếm họa về cuộc khiêu vũ của Chanel và Boy Capel, 1913.]]Năm 1909, Chanel đã gặp và bắt đầu một mối tình với một người bạn của Balsan, [[thuyền trưởng]] Arthur Edward có biệt danh là "Boy" Capel.<ref>"At this time in 1909, at the age of 26, she became friendly with an Englishman Arthur Capel, nicknamed "Boy", who was one of Etienne [Balsan]’s friends..."[http://www.ba-education.com/for/fashion/chanel.html Hirst, Gwendoline. "Chanel1883 - 1971 (Part One)", BA Fashion. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010.]</ref><ref>Wallach, Janet, "Chanel: Her style and her life," Nan A. Talese, 1998, p. 19</ref> Capel là thành viên trong giai cấp quý tộc [[Anh]] đã sắm cho Chanel một căn hộ tại [[Paris]] <ref>Vaughan, p. 7</ref> và tài trợ cho cửa hàng đầu tiên của bà. Đó được coi là phong cách nam tính của Capel dưới ảnh hưởng theo quan niệm về thời trang của Chanel.
 
Từ chiếc chai được thiết kế cho dòng [[Chanel Nº 5|Chanel No. 5]] có thể xuất phát theo hai nguồn gốc, đều được cho là bắt nguồn từ sự nhạy cảm tinh tế về thiết kế của Capel. Người ta tin rằng chính Chanel đã chỉnh sửa thành hình chữ nhật, làm những đường thẳng trở nên xiên xẹo dựa trên ý tưởng từ những chai nước hoa Charvet mà Capel thường mang theo trong vali hành lí <ref>Bollon, Patrice (2002) (inbằng Frenchtiếng Pháp). Esprit d'époque: essai sur l'âme contemporaine et le conformisme naturel de nos sociétés. Le Seuil. p. 57. ISBN 978-2-02-013367-8. "L'adaptation d'un flacon d'eau de toilette pour hommes datant de l'avant-guerre du chemisier Charvet"</ref> hay là thiết kế của những chai [[whisky|whiskey]] Capel dùng, và Chanel đã thú nhận rằng bà đã làm lại nó thành " những chai thủy tinh tinh tế, đắt tiền, trang nhã." <ref>Mazzeo, Tilar J., The Secret of Chanel No. 5, HarperCollins, 2010, p. 103</ref> Cặp đôi này đa dành thời gian bên nhau tại những khu nghỉ dưỡng thời thượng như [[Deauville]], nhưng ông ấy chưa bao giờ chung thủy với Chanel.<ref>"That year was to prove a difficult one for Gabrielle as Arthur Capel decided that the time had come for him to marry into the English aristocracy. Arthur Capel was a very successful businessman and a keen polo player. Gabrielle hoped to settle down with him, but he was often away on business and was often seen in the company of other women...."[http://www.ba-education.demon.co.uk/for/fashion/chanel.html]</ref>
 
Cuộc hôn nhân của hai người kéo dài trong 9 năm, sau đó Capel kết hôn với một quý tộc người [[Anh]] vào năm 1918 nhưng ông không hoàn toàn chia tay với Coco. Cuối năm 1919 Capel qua đời vì một tai nạn xe hơi, đây là một sự kiện chấn động trong cuộc đời Chanel.<ref>"Even though he was married Capel still sought out Gabrielle when he was in Paris. But all this was to come to an abrupt end. On ngày 21 tháng 12 năm 1919 Arthur Capel was driving to Cannes for Christmas when he was involved in a fatal accident."</ref> Theo báo cáo của địa phương, Chanel đã cho xây dựng một đài tưởng niệm bên lề đường cạnh nơi ông bị tai nạn, và bà thường xuyên đến đó để đặt hoa tưởng nhớ ông.<ref>{{chú thích web| quote=The memorial consists of a cross, raised on three steps and railed around, and bears the inscription "A la mémoire du capitaine Arthur Capel, légion d'Honneur de l'armée britane, mort accidentellement en cet endroit le 22 décembre 1919". Allegedly it was Chanel who had it placed there.|url=http://www.varmatin.com/ta/puget-sur-argens/192577/puget-sur-argens-coco-chanel-le-drame-de-sa-vie-au-bord-d-une-route-varoise |date=ngày 3 tháng 6 năm 2009 | title=Puget-sur-Argens Coco Chanel: le drame de sa vie au bord d'une route varoise |publisher=varmatin.com |language=tiếng Pháp |accessdate=ngày 8 tháng 3 năm 2011 }}</ref> Hai mươi lăm năm sau sự kiện này, Chanel sang định cư tại [[Thụy Sĩ]], đã tiết lộ với người bạn thân Paul Morand:" Cái chết của ông ấy là một đòn giáng khủng khiếp với tôi. Khi mất Capel tôi mất tất cả. Tiếp đó là không còn một cuộc sống hạnh phúc mà tôi đã chia sẻ." <ref>Vaughan, p. 9</ref>