Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Bát-nhã-ba-la-mật-đa”

n
→‎Ý nghĩa: replaced: lí tính → lý tính using AWB
n (→‎Kết luận: replaced: chân lí → chân lý using AWB)
n (→‎Ý nghĩa: replaced: lí tính → lý tính using AWB)
:Bạch Thế Tôn, nếu trong một pháp thoại, một bài giảng dạy như thế này mà tâm của Bồ Tát không chìm đắm, không sụp đổ, không sa sút, không rơi vào trạng thái sa sút, nếu tâm vị này không bị đoạn mạch sống, nếu vị này không bị gãy cột sống, nếu vị này không lo sợ, không run rẩy và không rơi vào tình trạng hoảng sợ run sợ thì ta nên biết: Bồ Tát Ma-ha-tát này tu tập hướng về Bát-nhã-ba-la-mật-đa, Bồ Tát Ma-ha-tát này phát triển Bát-nhã-ba-la-mật-đa, Bồ Tát Ma-ha-tát này nghiên cứu Bát-nhã-ba-la-mật-đa, Bồ Tát Ma-ha-tát này thiền quán Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì sao? Trong lúc Bồ Tát Ma-ha-tát hướng về Bát-nhã-ba-la-mật-đa quán chiếu các pháp này thì ông ta không nghĩ đến sắc, không tiếp cận sắc, không thấy sự sinh khởi của sắc, không thấy sự hoại diệt của sắc. Và cũng như thế trong trường hợp thụ, tưởng và hành. Ông ta không nghĩ đến thức, không tiếp cận thức, không thấy sự sinh khởi của thức, không thấy sự hoại diệt của thức.
 
Sự từ khước, đả đảo tất cả sự hiện diện của các pháp, các vật, các hiện tượng chính là bước triển khai triệt để giáo lí vô ngã. Nó không chỉ mang đến sự hoang mang, mà cũng đồng thời trở thành cơ sở, là bước khởi đầu của một tâm thức lìa bỏ tất cả, không nương tựa vào bất cứ cái gì. Tất cả - sự sinh thành và hoại diệt, tính vô thường của vạn vật mà ta có thể quan sát khi thiền quán theo phương pháp Tứ niệm xứ - được diễn giải phân tích cùng cực theo tính trong đoạn kinh trên. Hoàn toàn không có gì được quan sát, không có sự hình thành và cũng không có sự hoại diệt. Một pháp, dù là một trong [[ngũ uẩn]] hoặc một vật gì khác chẳng phải là sự sinh thành của nó, chẳng phải là sự hoại diệt của nó mà cũng không phải không như thế. Ta không có thể nói gì về nó được.
 
== Kết luận ==