Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Giả kim thuật”

n
replaced: lí → lý (2) using AWB
Không có tóm lược sửa đổi
n (replaced: lí → lý (2) using AWB)
[[Tập tin:William Fettes Douglas - The Alchemist.jpg|nhỏ|phải|250px|"Renel the Alchemist", by Sir William Douglas, 1853]]
'''Giả kim thuật''' là một truyền thống triết học và tiền khoa học được thực hành khắp châu Âu, Ai Cập và châu Á. Mục đích của giả kim thuật là để làm sạch, trưởng thành và hoàn thiện một số đối tượng.<ref>{{citation |last=Malouin |first=Paul-Jacques |contribution=Alchimie [Alchemy] |contribution-url=http://hdl.handle.net/2027/spo.did2222.0000.057 |title=[[Encyclopédie]] ou Dictionnaire Raisonné des Sciences, des Arts, et des Métiers, ''Vol.&nbsp;I'' |location=Paris |date=1751 |editor-last=Diderot |editor-link=Diderot |editor2-last=d'Alembert |editor2-link=D'Alembert |display-editors=0 |publisher=translated by Lauren Yoder in 2003 for Michigan Publishing's ''The Encyclopedia of Diderot & d'Alembert Collaborative Translation Project''}}.</ref><ref name=lindy>{{harvp|Linden|1996|pp=7 & 11}}.</ref>{{refn|group=n|For a detailed look into the problems of defining alchemy, see {{Harvnb|Linden|1996|pp=6–36}}}} Các mục tiêu chung là chuyển đổi các kim loại cơ bản (ví dụ chì) thành các kim loại quý (ví dụ vàng), tạo ra thuốc trường sinh bất tử, tạo ra các panaceas có thể chữa bất kỳ bệnh nào; và sự phát triển của [[alkahest]], một chất dung môi hòa tan mọi thứ.<ref>{{citation |contribution=Alchemy |contribution-url=http://dictionary.reference.com/browse/alchemy |title=Dictionary.com }}.</ref>
 
Giả kim thuật là tiền thân của môn [[hóa học]] cận đại và có ảnh hưởng sâu sắc đến khoa học kỹ thuật thời cổ cũng như đời sống loài người.
 
* [[Thủy ngân]] có điểm đặc biệt là khả năng hòa tan các kim loại khác, kể cả vàng và đặc quánh lại tạo thành hỗn hống.
* [[Lưu huỳnh]] có tính chất thú là khi kết hợp với [[chì]] và [[thiếc]] nó sẽ cho các kim loại có vẻ sáng và màu sắc của bạc, kết hợp với đồng và sắt sẽ cho các kim lại đó màu sắc và vẻ sáng của vàng.
 
Theo ý kiến của các nhà giả kim thuật Ả Rập muốn điều chế vàng và bạc từ kim loại thường thì cần tỉ lệ kết hợp giữa thủy ngân và lưu huỳnh là đủ và hàng loạt cách điều chế vàng đã ra đời. Tuy nhiên tất cả đều thất bại.
Giả kim thuật của người [[Trung Quốc]] khác hẳn với giả kim thuật của người Hy Lạp. Trong khi người Hy Lạp cố biến kim loại thường thành vàng thì người Trung Quốc cố tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão. Vì thế giả kim thuật Trung Quốc có tên gọi là [[luyện đan]], dựa trên cơ sở học thuyết thần tiên. Các đạo gia chia luyện đan thành [[ngoại đan]] và [[nội đan]]. Ngoại đan là dùng lửa luyện các khoáng chất như chì, thủy ngân trong các lò đặc biệt biến chúng thành đan dược nuốt vào có thể thành tiên hay trường sinh bất lão.
 
Thứ được các nhà giả kim thuật Trung Quốc ưa sử dụng nhất là [[chu sa|đan sa]], [[công thức hóa học]] là HgS, luyện trong các lò thành vàng, uống vàng đó sẽ trường sinh bất lão. Các đạo sĩ cho rằng đan sa có màu đỏ là màu cao quý, có khả năng chữa bách bệnh, ngoài ra khi đun nóng còn phân tích thành thủy ngân là thứ kim loại kì lạ và có những đặc điểm thú. Chính vì thế mà đan sa được xem là [[tiên dược]] để luyện [[thuốc trường sinh]].
 
Do đan sa có độc tính cao nên nhiều trường hợp người xưa đã chết khi sử dụng nó. Thời [[nhà Đường]], [[Đường Thái Tông]], [[Đường Hiến Tông]], [[Đường Mục Tông]], [[Đường Kính Tông]] trúng độc do uống [[kim đan]]. Vì thế, ngoại đan dần dần suy vi chỉ còn luyện đan là khởi thủy của ngành [[luyện kim]] ngày nay.