Mở trình đơn chính

Các thay đổi

Không thay đổi kích thước ,  2 năm trước
n
replaced: lí → lý , Lí → Lý using AWB
=== Thuở thiếu thời ===
 
Triệu Dữ Cử là cháu đời thứ 10 của [[Tống Thái Tổ]] [[Triệu Khuông Dận]], chào đời vào ngày Quý Hợi tháng giêng ([[26 tháng 1]]) năm nguyên niên Khai Hi ([[1205]]) thời Tống Ninh Tông tại ấp Trung Hồng, huyện Sơn Âm, phủ Thiệu Hưng<ref name="TS41" />. Phụ thân ông là [[Triệu Hi Lư]], về sau truy phong là Vinh Văn Cung vương [[Triệu Hi Lư]], mẹ là Toàn thị. Hy Lư là con của Triệu Quốc công [[Triệu Sư Ý]] (赵师意), Sư Ý là con của Ích Quốc công [[Triệu Bá Ngộ]] (赵伯旿), Bá Ngộ là con Ngô Quốc công [[Triệu Tử Thích]] (赵子奭), Tử Thích là con Phòng Quốc công [[Triệu Lệnh Giá]] (趙令稼), Lệnh Giá là con Gia Quốc công [[Triệu Thế Quát]] (趙世括), Thế Quát là con Lư Giang hầu [[Triệu Thủ Độ]] (趙守度), Thủ Độ là con Ký vương [[Triệu Duy Cát]] (趙惟吉), Duy Cát là con Yên Ý vương [[Triệu Đức Chiêu]] (趙德昭), Đức Chiêu là con trai thứ hai của Tống Thái Tổ, do con trai trưởng của Thái Tổ là [[Đằng vương Triệu Đức Tú]] mất sớm khi còn nhỏ và không có hậu duệ, nên Đức Chiêu là người đáng lý sẽ được chọn làm trữ quân của Thái Tổ trong tương lai. Nhưng do xưa kia Thái Tổ theo di huấn của thái hậu, nhường ngôi cho Thái Tông nên Đức Chiêu dù đã trưởng thành và rất tài năng (văn võ song toàn) lại thêm được cái đại thần trong triều, nhất là đại thần [[Triệu Phổ]] (cánh tay phải đắc lực của Thái Tổ bấy giờ) đánh giá cao cũng không được vua cha lập làm Thái tử mà chỉ được ban tước vị Yên vương. Thái Tông lên ngôi, liền tìm cớ giết hại con cháu Thái Tổ để có thể nhường ngôi cho con cháu của mình, [[Triệu Đức Chiêu]] cũng đã bị bức tử vào năm [[979]]. Các hoàng đế về sau của nhà [[Bắc Tống]] đều là hậu duệ của [[Tống Thái Tông]], còn các hoàng đế về sau của nhà [[Nhà Tống|Nam Tống]] (trừ [[Tống Cao Tông]]) đều là hậu duệ của [[Tống Thái Tổ]]. Triệu Dữ Cử là hậu duệ dòng trưởng chính thống trực hệ của Thái Tổ, nếu đem đối chiếu với phả hệ của hoàng tộc Triệu thị thì Dữ Cử là cháu họ của [[Tống Ninh Tông|Ninh Tông]] và gọi Ninh Tông bằng chú. Nhưng nếu xét về khía cạnh chính thống theo đạo trong [[Nho giáo]] thời phong kiến thì Triệu Dữ Cử có quyền thừa kế hợp pháp hơn nhiều so với dòng dõi của Tống Ninh Tông vì tổ tiên ông là dòng trưởng của Thái Tổ.
 
Lúc Dữ Cử chào đời là vào buổi tối nhưng lại có năm đạo hào quang ngũ sắc từ trong nhà vụt ra, sáng như ban ngày<ref name="TS41" />. Chào đời được ba ngày thì gia nhân nghe thấy bên ngoài có tiếng huyên náo của xa ngựa, nhưng khi ra xem thì chẳng thấy gì. Lúc Dữ Cử còn nhỏ ở trong buồng kín bỗng thấy có luồng sáng xuất hiện như ban ngày, mọi người nhìn vào đứa trẻ thì thấy giống như long, lân. Có người đến đoán mệnh, nói rằng Dữ Cử về sau hiển quý không biết bao nhiêu mà kể, mà người em là Dữ Nhuế cũng rất phi phàm<ref name="TS41" />.
:''Người bắc giỏi ngựa, người nam giỏi thuyền, lời đồn thực không sai''<ref name="TTTTG175" />.
 
Bèn sai [[Đổng Văn Bính]] chuẩn bị vượt sông. Văn Bính vừa xuất trận và đánh lui quân Tống. Vượt sông rồi, quân Mông đánh Ngạc châu, Đoan châu, Lâm Giang. Lúc này Đinh Đại Toàn nhiều lần giấu việc không báo nên bị bãi tướng. Lý Tông dùng Ngô Tiềm làm Tả Thừa tướng, Giả Tự Đạo làm Hữu Thừa tướng, xuất kho úy lạp tướng sĩ. [[Đổng Tống Thần]] xin dời đô tránh giặc, nhưng do có Tạ hoàng hậu can gián, nên thôi. Lúc này quân Mông Cổ đánh Ngạc châu, vây Thường Thắng quân. Khi đó Giả Tự Đạo đưa quân đến Hoàng châu, nghe tin bắc quân đến thì khiếp vía. May nhờ có [[Tôn Hổ Thần]] cầm quân đánh thắng được người Mông. Giả Tự Đạo hèn nhát, sai [[Tống Kinh]] sang Mông Cổ xin xưng thần cắt đất, Hốt Tất Liệt không theo. Mãi về sau, nghe tin [[Mông Kha]] đã chết, [[A Bất Ca]] lên ngôi ở Hòa Lâm, mới để Tống nghị hòa và đưa quân lên bắc tranh ngôi. Giả Tự Đạo sai [[Hạ Quý]] cho quân truy kích, đánh bại quân Mông<ref name="TTTTG175" />.
 
Tự Đạo về Lâm An, giấu việc nghị hòa chỉ báo tin thắng trận, được tiến phong Thiếu sư Ngụy quốc công, [[Lã Văn Đức]] làm Kiểm hiệu thiếu phó, gia quan cho các tướng có công.