Khác biệt giữa các bản “Khởi nghĩa Lư Tuần”

n
→‎Thảm bại Kinh Châu: replaced: Lí → Lý using AWB
n (→‎Thảm bại Kinh Châu: replaced: Lí → Lý using AWB)
Tháng 10, Lưu Dụ soái bọn Duyện Châu thứ sử [[Lưu Phiên]], Ninh sóc tướng quân [[Đàn Thiều]] tấn công nghĩa quân. Tháng 11, quân Tấn đánh chiếm Nam Lăng ở cửa khẩu hồ Bành Lễ <ref>Nay là hồ [[Bà Dương]]</ref>, nghĩa quân tổn thất hơn trăm chiến hạm và hơn 5000 người.
 
Lư Tuần đánh tiếng sẽ thuận dòng ra biển, nhưng Lưu Dụ không hề bị mê hoặc, tiến quân đến đóng ở đồn thú Đại Lôi <ref>Nay là [[Vọng Giang]], [[An Huy]]</ref> thuộc Lôi Trì <ref>Nay là hồ [[Long Cảm]], phía đông [[Vọng Giang]], [[An Huy]]</ref>, đồng thời phái bộ tướng [[Vương Trọng Đức]] soái 200 cỗ chiến hạm đến Cát Dương ở hạ du thiết lập phòng tuyến, đề phòng nghĩa quân ra biển thật. Tháng 12, Lư Tuần, Từ Đạo Phúc soái vài vạn quân từ Tầm Dương xuất phát, ở phụ cận Đại Lôi cùng Lưu Dụ quyết chiến. Lưu Dụ một mặt mai phục bộ kỵ ở bờ tây, một mặt tận dụng ưu thế thuận gió cùng chiến hạm nhanh nhẹ, mà xua thủy quân tấn công, ép thuyền hạm của nghĩa quân dạt vào bờ tây. Đài quân từ trên bờ tung lửa đốt thuyền, khiến cho nghĩa quân đại bại. Lư Tuần chạy về Tầm Dương, muốn lui về Quảng Châu, bèn thiết lập công sự ở Tả <ref>Chính là cửa khẩu của hồ Bà Dương. Nay là tây bắc [[Đô Xương]], Giang Tây, dưới núi Tả Lễ</ref>. Quân Tấn công phá Tả Lí, nghĩa quân liều chết vẫn không giữ nổi, tổn thất lên đến vạn người. Lư Tuần chạy về Phiên Ngung, Từ Đạo Phúc chạy về Thủy Hưng.
 
===Thua mất Quảng Châu===