Khác biệt giữa các bản “Romaja quốc ngữ”

Không thay đổi kích thước ,  2 năm trước
n
replaced: kí → ký (3) using AWB
n (clean up, replaced: → (2) using AWB)
n (replaced: kí → ký (3) using AWB)
hangeul=국어의 로마자 표기법|
hanja=國語의 로마字 表記法|
hanviet=Quốc ngữ ''La mã'' tự Biểu pháp|
tenkhac=kugŏŭi romacha p'yogipŏp|
latin=gugeoui romaja pyogibeop|
== Đặc điểm ==
Những điểm quan trọng của hệ phiên âm này như sau:
* 어 và 으 được viết thành chữ ghép với 2 tự [[nguyên âm]] tương ứng là ''eo'' và ''eu'' (thay cho chữ ''ŏ'' và ''ŭ'' trong hệ phiên âm [[McCune–Reischauer|McCune-Reischauer]]).
** Tuy nhiên, ㅝ được viết thành ''wo'' và ㅢ được viết thành ''ui''.
* Không giống như hệ McCune-Reischauer, các phụ âm bật (ㅋ, ㅌ, ㅍ, ㅊ) không có dấu nháy đơn: ''k'', ''t'', ''p'', ''ch''. Các phụ âm không bật hơi tương ứng của chúng (ㄱ, ㄷ, ㅂ, ㅈ) được viết bởi những tự phát âm trong tiếng Anh: ''g'', ''d'', ''b'', ''j''. Tuy nhiên, tất cả phụ âm đuôi nào được phát âm như phụ âm tắc (gần như toàn bộ ngoại trừ các âm ㄴ, ㄹ, ㅁ, ㅇ không theo sau bởi một nguyên âm hay bán nguyên âm) được viết thành ''k'', ''t'', ''p'', mà không cần xét đến phát âm khi đứng đơn lẻ của nó: 벽 → ''byeo'''k''''', 밖 → ''ba'''k''''', 부엌 → ''bueo'''k''''' (Nhưng: 벽에 → ''byeo'''g'''e'', 밖에 → ''ba'''kk'''e'', 부엌에 → ''bueo'''k'''e'')
* ㅅ luôn được viết thành ''s'' trước nguyên âm và bán nguyên âm; không có ''sh'' trừ khi chuyển tự.
* ㄹ có hai trường hợp, được viết thành ''r'' trước nguyên âm và bán nguyên âm, viết thành ''l'' trong các trường hợp còn lại: 리을 → '''''r'''ieu'''l''''', 철원 → ''Cheo'''r'''won'', 울릉도 → ''[[Ulleungdo|U'''ll'''eungdo]]'', 발해 → ''[[Bột Hải|Ba'''l'''hae]]''. Giống như hệ McCune-Reischauer, ㄴ được viết thành ''l'' khi được phát âm như một âm cạnh (biên âm) hơn là một phụ âm mũi tắc: 전라북도 → ''[[Jeolla Bắc|Jeo'''l'''labuk-do]]''