Khác biệt giữa các bản “Tống Khâm Tông”

Không thay đổi kích thước ,  3 năm trước
n
replaced: kí → ký (2) using AWB
n (replaced: kí → ký (2) using AWB)
Năm [[1102]], Huy Tông đổi tên Triệu Đản thành Triệu Huyên, cuối năm đó chính thức cải thành Hoàn. Năm [[1103]], ông được tấn phong làm Định vương. Năm [[1111]], được vào học ở Tư Thiện đường<ref name="TS23" />. Năm [[1113]], gia phong thái bảo. Tháng 2 ÂL năm [[1115]], Huy Tông hạ chiếu lập ông làm Hoàng thái tử. Tháng 6 năm [[1116]], ông thành hôn với Chu thị, con gái Vũ Khang quân tiết độ sứ [[Chu Bá Tài]]. Trong mắt Huy Tông thì người em thứ ba của Triệu Hoàn là Vận vương [[Triệu Khải]] (趙楷) mới là người có khí chất phù hợp với ngôi hoàng đế. Triệu Khải từ nhỏ là đã chứng tỏ mình là người có tài khi dự thi khoa cử và đỗ trạng nguyên. Tuy vậy, Huy Tông không muốn việc phế trưởng lập thứ có thể gây nên hậu quả không tốt sau này, thêm nữa lại có hoạn quan [[Lương Sư]] ra sức can gián và bảo vệ nên Triệu Hoàn bảo toàn được ngôi thái tử. Lúc bấy giờ thái tể [[Vương Phủ]] không được lòng thái tử, nên có ý lập Vận vương Khải. [[Lý Bang Ngạn]] đem việc tâu lên, do đó Vương Phủ mất chức.
 
Bấy giờ triều đình [[nhà Tống]] đang gặp phải sự uy hiếp của nước Kim người Nữ Chân. Trước kia Tống kết với Kim hiệp ước [[liên minh trên biển]], hợp sức diệt Liêu, nhằm thu phục 16 châu Yến, Vân mà Hậu Tấn Cao Tổ [[Thạch Kính Đường]] đã dâng cho [[Khiết Đan]] thế kỷ 10. Tuy nhiên quân Tống xuất chiến bất lợi, người Kim thừa cơ chiếm được đất Yên, chỉ trả cho Tống vùng Yên Kinh<ref>Nay là [[thủ đô]] [[Bắc Kinh]], [[Trung Quốc]]</ref> và 6 châu. Do Tống thu nhận hàng tướng [[Trương Giác]] ở Bình châu<ref>Huyện Loan, [[Đường Sơn]], [[Hà Bắc]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>, Kim lấy việc đó mà gây chiến. Tháng 11 năm [[1125]], [[Kim Thái Tông]] lệnh cho [[Tà Dã]], [[Niêm Một Hát]] chia quân làm hai cánh tấn công Thái Nguyên, Yên Sơn. Bấy giờ quân Kim đã áp sát sông [[Hoàng Hà]], Huy Tông hoảng hốt muốn bỏ trốn khỏi kinh đô. Thái thường thiếu khanh [[Lý Cương]] bàn với cấp sự trung [[Ngô Mẫn]] xin vua nhường ngôi cho thái tử, Ngô Mẫn thấy việc ấy không tiện, chỉ xin thái tử giám quốc. [[Lý Cương]] chích máu mà viết tấu trình lên, xin theo lệ [[Đường Túc Tông]] ở Linh Vũ xưa kia, xin nhà vua nhường ngôi cho thái tử<ref>''[[Tống sử]]'', [[:zh:s:宋史/卷358|quyển 358]]</ref>.
 
Ngày [[15 tháng 1]] năm [[1126]], Huy Tông phong thái tử làm Khai Phong Mục. Ngày [[17 tháng 1]], Huy Tông xuống chiếu cho thái tử tức vị hoàng đế, bản thân tự xưng Giáo chủ Đạo Quân thái thượng hoàng đế dời sang cung Long Đức, hoàng hậu Trịnh thị là Thái thượng hoàng hậu. Thái tử vào cung cấm, khóc lóc từ chối, Huy Tông không theo. Ngày [[18 tháng 1]], Triệu Hoàn lên ngôi hoàng đế, tức là '''Tống Khâm Tông'''<ref name="TS23" />
Tháng 3 ÂL, người Kim sau khi lập Trương Bang Xương thì chuẩn bị đưa tông thất triều Tống lên bắc. Đầu tháng 4, [[Oát Li Bất]] chia 2 vua Huy, Khâm làm hai đoàn áp giải về Kim. [[Trương Bang Xương]] mặc áo bào xám, đội mũ đỏ đến đưa miễn. [[Oát Li Bất]] đưa thượng hoàng, thái hậu và thân vương cùng mẹ đẻ của Khang vương Cấu là [[Vi Hiền phi (Tống Huy Tông)|Vi Hiền phi]] khởi hành từ Họt châu. [[Niêm Một Hát]] đưa Khâm Tông, Chu hậu, thái tử cùng [[Hà Trạc]], [[Tôn Phó]], [[Trương Thúc Dạ]], [[Trần Quá Đình]], [[Tần Cối]] đi từ Trịnh châu. Tháng 7 năm đó, hai vua Tống bị giam giữ ở Yên Kinh. Ngày [[21 tháng 8]] năm [[1128]], họ bị giải tới kinh đô nước Kim và bị ép mặc đồ vải thô đến lạy ở miếu [[Kim Thái Tổ]] A Cốt Đả rồi lên điện Càn Nguyên yết kiến vua Kim. [[Kim Thái Tông]] hạ chiếu, phong Triệu Cát làm Hôn Đức công, Triệu Hoàn làm Trọng Hôn hầu. Tháng 10 năm đó, 2 vua Tống bị dời tới Hàn châu<ref>Thành Bắc Thiên Kiểm, huyện Lê Thụ, tỉnh [[Cát Lâm]] hiện nay</ref>. Tháng 7 ÂL năm [[1130]], bị dời sang thành Ngũ Quốc<ref>Huyện [[Y Lan]], tỉnh [[Hắc Long Giang]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>.
 
Trong khi đó tại miền nam, em ông là Khang vương Triệu Cấu dưới sự ủng hộ của các đại thần đã lên ngôi hoàng đế vào ngày [[12 tháng 5]], tức là [[Tống Cao Tông|Cao Tông của Nam Tống]], diêu tôn Khâm Tông là Hiếu Từ Uyên Thánh hoàng đế<ref>''[[Tống sử]]'', [[:zh:s:宋史/卷024|quyển 24]]</ref>. Ngày [[4 tháng 6]] năm [[1135]], Hôn Đức công bệnh mất ở thành Ngũ Quốc<ref>''[[Tống sử]]'', [[:zh:s:宋史/卷022|quyển 22]]</ref>. Tháng 2 ÂL năm [[1141]], khi Tống - Kim xúc tiến nghị hòa, [[Kim Hi Tông]] hạ lệnh thăng Hôn Đức công làm Thiên Thủy quận vương, Trọng Hôn hầu làm Thiên Thủy quận công<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷124|quyển 124]]</ref>. Mùa xuân năm [[1142]], hai nước Thiệu Hưng hòa nghị, lấy Hoài Hà làm ranh giới, giang sơn triều Tống đến đó chỉ còn 15 lộ. Ngày [[1 tháng 5]] năm [[1142]], Kim cho mẹ Cao Tông là Vi thái hậu đem thi hài Huy Tông về nước an táng. Khi thái hậu khởi hành, Thiên Thủy quận công chạy theo xe, xin về nói hộ với Cao Tông để cho mình về, hứa chỉ cần ngôi Thái Ất cung sứ, không đòi hỏi gì hơn, thái hậu đồng ý<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷125|quyển 125]]</ref>. Tuy nhiên Cao Tông nghe việc này, tỏ ra không vui, và đến cuối đời Khâm Tông cũng không được về nước.
 
Theo quyển Đại Tống Tuyên Hòa di sự, tháng 6 ÂL năm [[1156]], vua Kim lúc đó là Hải Lăng vương [[Hoàn Nhan Lượng]] ép ông cùng vua Liêu cũ là [[Da Luật Diên Hi]] phải cưỡi ngựa. Thiên Thủy quận công thân thể vốn suy nhược, vừa lên ngựa thì không trụ nổi, bị ngã ngựa mà chết; còn Da Luật Diên Hi quen cưỡi ngựa, đến đó nhân cơ hội tìm đường bỏ trốn, liền bị kị binh Kim bắn chết. Năm [[1161]] tin tức này mới được báo cho triều đình [[Nam Tống]]<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷130|quyển 130]]</ref><ref>''[[Kim sử]]'', liệt truyện quyển 61: Hải Lăng sử Vương Toàn kích nộ Tống chủ, tương dĩ vi nam phạt chi danh dã. vị Cảnh San viết:"hồi  nhật, dĩ Toàn sở ngôn tấu văn". Toàn chí Tống, nhất như Hải Lăng chi ngôn để trách Tống chủ. Tống chủ vị Toàn viết:Văn công bắc phương danh gia, hà nãi như thị?" Toàn phục viết:"triệu hoàn kim dĩ tử hĩ". Tống chủ cự khởi phát ai nhi bãi</ref>. Triều đình Nam Tống làm lễ tang, truy miếu hiệu cho ông là Khâm Tông, [[thụy hiệu]] là ''Cung Văn Thuận Đức Nhân Hiếu hoàng đế'' (恭文順德仁孝皇帝).