Khác biệt giữa các bản “Naresuan”

AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:10.6966118 using AWB
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi qua ứng dụng di động
(AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:10.6966118 using AWB)
|image = KingNU.jpg|caption = <small>Statue of King Naresuan pouring water on the ground, symbolizing declaration of independence from the Burmese [[First Toungoo Empire|Taungoo Empire]], at [[Naresuan University]], Phitsanulok province, Thailand
| succession = [[King of Siam]]
| reign = ngày 1 Julytháng 7 năm 1590 – ngày 25 Apriltháng 4 năm 1605
| predecessor = [[Mahathammarachathirat (king of Ayutthaya)|Mahathammarachathirat]]
| successor = [[Ekathotsarot]]
 
==Đầu đời==
Hoàng tử Naret sinh tại Phitsanulokin 1555/56.<ref group=note>Naresuan was likely born sometime between ngày 18 Julytháng 7 năm 1555 and ngày 27 Apriltháng 4 năm 1556. (Damrong 2001: 116): He became king on the 13th waning of the eighth Siamese month of 952 CS at age 34 (in 35th year), meaning he was born between 14th waning of Ashadha 917 CS (ngày 18 Julytháng 7 năm 1555) and 13th waning of Ashadha 918 CS (ngày 5 Julytháng 7 năm 1556). (Damrong 2001: 177) says that he died in his 50th year on Monday, 8th waxing of the sixth Siamese month (Vaisakha) of 967 CS (ngày 25 Apriltháng 4 năm 1605), meaning he was born sometime between 9th waxing of Vaisakha 917 CS (ngày 29 Apriltháng 4 năm 1555) and 8th waxing of Vaisakha 918 CS (ngày 17 Apriltháng 4 năm 1556). <br/>
Furthermore, (Damrong 2001: 67) also says that Naresuan was already 8 (in his 9th year) when he was taken to Pegu after Bayinnaung took Phitsanulok—per (Damrong 2001: 36) on Sunday, 5th waning of the second Siamese month in the year of the pig: i.e. Sunday, 5th waning of Pausha 925 CS (Sunday, ngày 2 Januarytháng 1 năm 1564). Although (Damrong 2001) does not exactly state when the prince was sent to Pegu, he may have been sent there shortly after ngày 2 Januarytháng 1 năm 1564 or shortly after Bayinnaung took Ayutthaya on ngày 18 Februarytháng 2 năm 1564 per (Hmannan Vol. 2 2003: 355). If so, he may have been born sometime between July 1555 and Jan/February 1556.</ref> Ông là con của vua Mahathammarachathirat của Phitsanulok và nữ hoàng của ông, Wisutkasat. Mẹ của ông là con gái của Maha Chakkraphat và nữ hoàng Suriothai. Cha của ông là một quý tộc Sukhothai đã đánh bại Worawongsathirat năm 1548 và đưa Maha Chakkraphat lên ngôi. Prince Naret, còn được gọi là "Hoàng tử đen" ({{lang-th|พระองค์ดำ}}) Có một em trai Ekathotsarot, được gọi là "Hoàng tử trắng" ({{lang-th|พระองค์ขาว}}), và một chị gái, [[Suphankanlaya]].<ref name=Damrong>Rajanubhab, D., 2001, ''Our Wars With the Burmese'', Bangkok: White Lotus Co. Ltd., ISBN 9747534584</ref>{{rp|67}}
 
Trong cuộc vây hãm thứ hai của Ayutthaya (1563-64), vua Bayinnaung của triều đại Taungoo của Bago, Miến Điện (trước đây được biết đến ở Miến Điện như Hanthawaddy ({{Lang-my|ဟံသာဝတီ}} Và bằng tiếng Thái như {{RTGS|''Hongsawadi''}} {{Lang|th|หงสาวดี}}) Dẫn đầu quân đội khổng lồ, xâm chiếm đất nước và vây hãm Phitsanulok. Maha Thammarachathirat tin rằng thành phố sẽ không thể chịu được một cuộc bao vây dài do sự khan hiếm lương thực và dịch bệnh đậu mùa, vì vậy ông đầu hàng thành phố. Vua Bayinnaung đã đưa Phitsanulok và Ayutthaya, và làm cho Xiêm La trở thành một quốc gia lưu vực Miến Điện.<ref name=geh-167-168>Harvey 1925: 167–168</ref> Ông ta yêu cầu Maha Thammarachathirat gửi con trai của ông - Hoàng tử đen - sang Bago như là sự hoan hỷ để đảm bảo lòng trung thành của nhà vua.
 
==Tại Bago==
==Vị vua==
{{Lịch sử tỉnh Phitsanulok}}
[[FileTập tin:Royal statue king naresuan ay.jpg|left|thumb|140px|Royal statue of King Naresuan at [[Phra Nakhon Si Ayutthaya (city)|Phra Nakhon Si Ayutthaya]].]]
Maha Thammarachathirat đã làm Naret [[Uparaja]] ("Thái tử") của Phitsanulok như Naresuan ở tuổi 15.<ref group=note>(Damrong 2001: 75): He was 8 (in his 9th year) when he went to Pegu in 1564. Six years later, he became viceroy of Phitsanulok at age 15 (16th year).</ref> Naresuan gia nhập cha và vua Bago trong một cuộc thám hiểm để chinh phục Viêng Chăn, thủ đô của Lan Xang ở lại, nhưng ông đã mắc phải một số bệnh đậu mùa và phải trở về. Ông đã xây dựng Cung điện Chankasem ở Ayutthaya như một nơi ở khi ông thăm cha mẹ mình.
 
Năm 1581, [[Bayinnaung]] qua đời, và được kế vị bởi con trai [[Nanda Bayin]]. Thuyền trưởng của Nanda Thada Minsaw của Ava sau đó nổi dậy năm 1583, buộc Nanda Bayin phải triệu tập các viên chức của Prome, Taungoo, [[Chiang Mai]], [[Vientiane]] và Ayutthaya để giúp đỡ đàn áp cuộc nổi dậy. Ngày 2 tháng 2 năm 1584, Naresuan rời quân đội của mình tới Bago theo lệnh, và chỉ đến biên giới vào tháng Tư.<ref group=note>(Damrong 2001: 85): Naresuan began his march on the 6th waning moon of the third Siamese month, year of the horse, BE 2126, and arrived at Muang Khraeng, the border in the sixth month. Editors of (Damrong 2001) translated the dates as March 1583 and June 1583 respectively. But the given dates are lunisolar calendar dates, and should follow then prevailing [[Chula Sakarat]] calendar. The Thai calendar (and the month names) did not get realigned to the Gregorian calendar until 1941. According to (Eade 1989: 133), 6th waning of the 3rd Siamese month (Magha, assuming Sukhothia style month naming adopted at Ayutthaya), 945 CS translates to {{OldStyleDate|2 February|1584|23 January}}, and the sixth month translates to ngày 10 Apriltháng 4 năm 1584 to ngày 9 Maytháng 5 năm 1584 (N.S.) According to the Burmese ''[[Hmannan Yazawin]]'' chronicle (Hmannan Vol. 3 2003: 77–79), Naresuan's troops arrived near the environs of Pegu prior to Nanda having defeated the Ava rebellion on Tuesday, 1st waning of Kason 946 ME (Tuesday, {{OldStyleDate|24 April|1584|14 April}}).</ref>
 
== Reference ==
{{reflisttham khảo}}
 
== Note ==
{{reflisttham khảo|group=note}}
 
[[Thể loại:Sinh thập kỷ 1550]]
[[Thể loại:Mất năm 1605]]