Khác biệt giữa các bản “Giáo phận Đà Lạt”

không có tóm lược sửa đổi
n
Giáo phận Đà Lạt sơ khởi được hình thành từ một giáo điểm truyền giáo do Giám mục Lucien Mossard Mão, Đại diện tông tòa Giáo phận Tây Đàng Trong thành lập vào năm 1918. Năm 1920 giáo điểm được Giám mục Victor Quinton nâng lên thành giáo xứ Nicola (còn gọi là giáo xứ Đà Lạt), lúc đó giáo dân chỉ khoảng 200 người. Đến năm [[1927]], Giáo xứ Djiring được thành lập, do Linh mục [[Jean Cassaigne]] (tên Việt: Sanh) kiêm giám quản chung với Giáo xứ Đà Lạt. Trong đợt di dân giai đoạn 1954 - 1955, số giáo dân tăng lên nhiều, trong đó nhiều người công giáo từ miền Trung và miền Bắc đến lập nghiệp.<ref name="simon"/>
 
Giáo phận được thành lập do sắc chỉ của [[Giáo hoàng Gioan XXIII]] ngày [[27 tháng 11]] năm 1960, gồm ba tỉnh [[Tuyên ÐứcĐức]], [[Lâm Đồng]], [[Phước Long (tỉnh)|Phước Long]] (tách từ [[Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh|Giáo phận Sài Gòn]]), và tỉnh [[Quảng Ðức]] (tách từ [[Giáo phận Kontum]]). Giáo phận mới được trao cho [[Giám mục]] [[Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền]], với 81 [[linh mục]] triều và dòng coi sóc 77.324 giáo dân trên tổng số 254.669 người.
 
Ngày 22 tháng 6 năm 1967, hai tỉnh [[Phước Long (tỉnh)|Phước Long]] và [[Quảng ÐứcĐức]] được sát nhập vào giáo phận mới: [[Giáo phận Ban Mê Thuột]]. Sau năm 1975, hai tỉnh Tuyên ÐứcĐức và Lâm Ðồng được gộp lại với tên gọi là [[Lâm Đồng]]. Giáo phận Ðà Lạt ngày nay nằm gọn trong tỉnh này.
 
==Các danh địa giáo phận==
215.614

lần sửa đổi