Khác biệt giữa các bản “Hoàn Nhan Doãn Tế”

n
n (→‎top: sửa chính tả 3, replaced: tên tựtên tự using AWB)
Năm [[1209]], Mông Cổ xuất binh tấn công thần thuộc của Kim là [[Tây Hạ]]. Tây Hạ hướng sang Kim cầu viện song Vệ Thiệu Vương ngồi nhìn không ứng cứu. Tây Hạ sau đó khuất phục Mông Cổ. Năm [[1211]], [[Thành Cát Tư Hãn]] liên kết với người Hạ xuất binh đánh Kim. Được tin, Kim chủ mệnh [[Chương Độc Cát Thiên Gia Nô]], [[Hồ Sa Hổ|Ngột Thạch Liệt Hồ Sa Hổ]] làm tướng ra Tây Kinh chống giữ, nhưng bị quân Mông đánh cho một trận lớn, phải tháo chạy. Bấy giờ Hồ Sa Hổ tuy là thua trận nhưng không bị trách phạt mà còn được phong Hữu phó soái, Quyền Thượng thư Tả thừa<ref name="KS13" /><ref name="TTTTG159">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷159|quyển 159]]</ref>.
 
[[Thành Cát Tư Hãn]] vào Tây Kinh, chia quân đánh chiếm các châu quận. Tháng 8 năm [[1211]], hai quân giao chiến một trận lớn tại Dã Hồ Lĩnh<ref>Tây bắc [[Trương Gia Khẩu]], [[Hà Bắc (Trung Quốc)|Hà Bắc]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>. Triều đình [[nhà Kim]] đã học được bài học thất bại trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh là "chia mỏng quân đội để đóng giữ ở các cửa ải, các thành quách", bắt đầu áp dụng chiến lược "tập trung quân số" để đối phó với quân địch. Nhà Kim tập trung 45 vạn quân tinh nhuệ trên cả nước, dàn trận tại Dã Hồ Lãnh, với ý đồ dồn quân đội Mông Cổ vào con đường chết. Thành Cát Tư Hãn đã tiếp nhận kiến nghị của [[Mộc Hoa Lê]], trước tiên dùng đội quân cảm tử để thọc sâu vào Trung quân của Kim, rồi sau đó các cánh quân khác mới mở đường tấn công, tức tập trung 10 vạn quân để đánh thẳng vào một mục tiêu chủ yếu. Hơn nữa, chủ soái của Mông Cổ dù đứng trước mọi tình trạng nguy hiểm vẫn không hốt hoảng, vẫn bình tĩnh chỉ huy. Các tướng sĩ của Mông Cổ dám xông lên chiến đấu. Do vậy, chủ lực của triều đình nhà Kim mới bị đánh bại. Riêng quân Kim tiếp ứng chưa đánh đã bỏ chạy trước. Xác chết của quân Kim đã nằm rải rác trên một diện tích rộng hằng trăm dặm. Tiếp đó, quân Mông Cổ hạ Bắc, Tây, Đông ba kinh, chiếm hơn 90 thành trì của nước Kim. Nước Kim ngày càng nguy cấp.
 
Tin thất bại khiến cả triều đình nhà Kim bàng hoàng. Kim chủ phải cho bãi chức của [[Bộc Tán Đoan]]. Vào tháng 9, quân Mông Cổ tiến đến gần Trung Đô. Kim chủ thất kinh, muốn bỏ Yến Kinh chạy về Biện Kinh nhưng quân Kim liều sức chiến đấu, cộng thêm thành phòng vệ kiên cố và có trọng binh phòng thủ nên tạm đánh lui được quân Mông. Tháng 7 năm [[1213]], [[Thành Cát Tư Hãn]] tập trung đại quân từ Dã Cô Lãnh tấn công và đập tan 30 vạn quân Kim ở Cối Hà Bảo<ref>Phía nam Vạn Toàn, [[Hà Bắc (Trung Quốc)|Hà Bắc]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>, rồi tiến thẳng tới Cư Dung Quan, bao vây Tây Kinh. Cùng năm, một người Kim tên là [[Da Luật Lưu Ca (nhà Nguyên)|Da Luật Lưu Ca]] tại tỉnh Cát Lâm đã khởi binh phản Kim, trong vài tháng đã phát triển đến trên mười vạn người. [[Da Luật Lưu Ca]] dựa vào [[Mông Cổ]], tại phụ cận [[Xương Đồ]], [[Liêu Ninh]] ngày nay đã dánh bại 60 vạn quân Kim. Tình hình Kim trở nên xấu đi.
 
== Cái chết ==