Khác biệt giữa các bản “William IV của Liên hiệp Anh và Ireland”

n
replaced: tháng 3]], 17 → tháng 3 năm 17, tháng 5, 17 → tháng 5 năm 17, tháng 6, 17 → tháng 6 năm 17, tháng 8, 17 → tháng 8 năm [[17, tháng 1 17 → tháng 1 năm 17, tháng using AWB
n (replaced: tháng 3]], 17 → tháng 3 năm 17, tháng 5, 17 → tháng 5 năm 17, tháng 6, 17 → tháng 6 năm 17, tháng 8, 17 → tháng 8 năm [[17, tháng 1 17 → tháng 1 năm 17, tháng using AWB)
}}
 
'''William IV''' (William Henry; [[21 tháng 8]], năm [[1765]] – [[20 tháng 6]] năm [[1837]]) là Vua của [[Liên hiệp nước Anh thống nhất và Ireland]] và [[Vua của Hanover]] từ [[26 tháng 6]] năm [[1830]] cho đến khi ông qua đời. Là hoàng tử thứ ba của [[George III của Liên hiệp Anh và Ireland|George III]] và là em trai và người thừa kế của vua [[George IV của Liên hiệp Anh và Ireland|George IV]], ông là vị vua cuối cùng và áp chót của nhà Hanover ở Anh quốc.
 
William phục vụ trong [[Hải quân hoàng gia]] vào thời trẻ và có thường được gọi, cả trong và sau thời gian cai trị, với biệt danh là "Ông vua lính thủy".<ref>{{cite news | title = Scots Greys | last = Staff writer | date = 25 January 1831 |work=The Times | location = UK | page = 3 | quote =...they will have the additional honour of attending our "Sailor King"... }}</ref><ref>{{cite news | title = Will of his late Majesty William IV | last = Staff writer | date = 29 June 1837 |work=The Times | location = UK | page = 5 | quote =...ever since the accession of our sailor King... }}</ref> Ông từng đóng quân ở [[Bắc Mỹ]] và [[Caribbean]]. Năm [[1789]], ông được tấn phong [[Công tước Clarence và St Andrews]]. Bởi vì hai vị hoàng huynh đều chết mà không còn một người con hợp pháp nào, nên chiếu theo Đạo luật Kế vị, William lên kế vị ngai vàng khi đã 64 tuổi. Triều đại của ông chứng kiến nhiều cải cách: [[luật tế bần]] được ban hành, [[lao động trẻ em]] bị hạn chế, [[Đạo luật bãi bỏ chế độ nô lệ 1833|chế độ nô lệ bị bãi bỏ]] gần như trong toàn bộ [[đế quốc Anh]], và hệ thống bầu cử ở Anh được điều chỉnh lại bởi [[Đạo luật cải cách 1832]]. Mặc dù William không tham gia vào chính trị nhiều như hoàng phụ và hoàng huynh, nhưng ông là vị quân vương cuối cùng ở Anh cho đến hiện nay bổ nhiệm thủ tướng trái với ý muốn của Nghị viện. Thông qua hoàng đệ là [[Hoàng tử Adolphus, Công tước Cambridge]], [[phó vương]] của Hanover, ông ban cho tiểu vương quốc Đức này một bản hiến pháp tồn tại ngắn ngủi.
Phần lớn thời thơ ấu ông sống tại [[Richmond, London|Richmond]] và [[Cung điện Kew]], nơi ông được giáo dục bởi các gia sư.<ref>Ziegler, tr. 13–19.</ref> Năm lên 13, ông tham gia vào [[Hải quân hoàng gia]] với cương vị [[chuẩn úy hải quân]],<ref>Ziegler, tr. 23–31.</ref> và có mặt tại [[Trận Cape St. Vincent (1780)|trận chiến Cape St Vincent]] năm [[1780]].<ref>Allen, tr. 29 and Ziegler, tr. 32.</ref> Những kinh nghiệm học được khi tham gia hải quân của ông dường như có không nhiều khác biệt so với các chuẩn úy khác, mặc dù có điểm trái ngược với họ là ông thường được đi kèm bởi một người giám hộ. Ông được chia nhiệm vụ nấu ăn<ref>Ziegler, tr. 29.</ref> và từng bị bắt cùng với một thủy thủ chung tàu sau vụ ẩu đả vì say rượu ở [[Gibraltar]]; ông được lập tức thả ra khỏi nhà giam sau khi danh tính của ông được người ta biết tới.<ref>Ziegler, tr. 33.</ref>
 
Ông phục vụ tại New York trong thời kì [[Cách mạng Mỹ|Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ]]. Trong khi Williamở Mỹ, [[George Washington]] đã phê chuẩn một [[âm mưu]] bắt có ông, viết rằng: "Lòng nhiệt tình đến táo bạo rất dễ thấy được trong kế hoạch của anh sẽ gây bất ngờ cho bọn chúng và (anh) sẽ được khen ngợi vì công lao bắt được Hoàng tử William Henry và [[Robert Digby (đô đốc)|Đô đốc Digby]]; và anh sẽ được sự ủy quyền của tôi để thực hiện việc này bằng bất cứ cách nào, và tại bất cứ thời điểm nào, theo sự phán đoán của anh. Tôi thực sự bị thuyết phục hoàn toàn, rằng không cần thiết để cảnh cáo anh chống lại sự xúc phạm hay sỉ nhục đối với bản thân Hoàng tử hay Đô đốc..."<ref>George Washington viết cho Đại tá Ogden, [[28 tháng 3]], năm [[1782]], trích dẫn trong Allen, tr. 31 và Ziegler, tr. 39.</ref> Kế hoạch rốt cục không thành công; người Anh biết được thông tin và cử người bí mật bảo vệ William, khi đó ông đang đi bộ vòng quanh New York mà không có ai hộ ống.<ref>Allen, tr. 32 và Ziegler, tr. 39.</ref>
 
Ông được thăng làm trung úy năm [[1785]] và [[đại úy (hải quân)|đại úy]] của {{HMS|Pegasus|1779|6}} và năm sau.<ref>Ziegler, tr. 54–57.</ref> Cuối năm [[1786]], ông đóng quân ở [[Tây Ấn]] thuộc quyền quản lý của [[Horatio Nelson]], người viết về William như sau: "Trong sự chuyên nghiệp của anh ta, anh ta đứng trên hai phần ba, tôi chắc chắn, số người trong danh sách [[hải quân]]; và trong tư thế trang nghiêm đúng nội quy và sự kính trọng của anh ta đối với sĩ quan cấp trên, tôi hầu như không thể sánh bằng."<ref>Ziegler, tr. 59.</ref> Hai người là bạn thân của nhau, và cùng ăn tối hầu như hàng đêm. Tại lễ cưới của Nelson, William khăng khăng đòi hộ tống [[Frances Nelson|cô dâu]].<ref>Somerset, tr. 42.</ref> Ông được chỉ huy con tàu khu trục {{HMS|Andromeda|1784|6}} năm [[1788]], và được thăng [[Đô đốc|hậu đô đốc]] chỉ huy {{HMS|Valiant|1759|6}} vào năm sau.<ref name="ma">{{cite book | last = Ashley | first = Mike | title = The Mammoth Book of British Kings and Queens | publisher = Robinson | location = London | year = 1998 | pages = 686–687 | isbn = 978-1-84119-096-9 }}</ref>
 
William tìm cách để được trở thành một [[công tước]] như hai hoàng huynh của ông, và nhận được một khoản trợ cấp từ Nghị viện tương tự họ, nhưng phụ hoàng của ông không muốn như vậy. Để gây áp lực, William đe dọa đứng về phía phe đối lập trong [[Hạ viện Anh|Viện Thứ dân]] trong cuộc bầu cử ở Devon. Lo sợ trước viễn cảnh con trai mình nói xấu mình với những người bỏ phiếu, George III tấn phong ông làm [[Công tước Clarence và St Andrews]] và [[Bá tước Munster]] ngày [[16 tháng 5]], năm [[1789]],<ref>Ziegler, tr. 70.</ref> nói rằng: "Tôi cũng biết đó là một lá phiếu khác cho phe đối lập."<ref>Hồi ký của [[Sir Nathaniel Wraxall, Nam tước thứ nhất]], tr. 154 trích dẫn trong Ziegler, tr. 89.</ref> Quan điểm chính trị William thường mâu thuẫn, giống như nhiều chính khách thời điểm đó, có thể không hoàn toàn ủng hộ một đảng duy nhất. Ông công khai liên minh với đảng [[Whigs (Đảng chính trị Anh)|Whigs]] cũng như anh trai ong George, Hoàng tử xứ Wales, và Frederick, Công tước York, những người nổi tiếng với sự xung đột về quan điểm chính trị với phụ thân họ.<ref>Allen, tr. 46 and Ziegler, tr. 89–92.</ref>
 
== Thăng chức và tham chính ==
Vị công tước vừa được phong thôi không hoạt động trong hải quân hoàng gia vào năm [[1790]].<ref name="rh">{{cite web | url = https://www.royal.uk/william-iv-r-1830-1837 | title = William IV | publisher = Official web site of the British Monarchy | accessdate = 18 April 2016}}</ref> Khi Anh tuyên chiến với Pháp năm [[1793]], ông mong muốn phục vụ đất nước và chờ đội lệnh nhập ngũ, nhưng không được lên tàu, có lẽ lý do ban đầu là vì ông bị gãy tay sau khi ngã từ cầu thang sau một cơn say rượu, nhưng sau đó là vì ông có một [[bài phát biểu]] trước [[Thượng viện]] với nội dung phản đối chiến tranh.<ref>Ziegler, tr. 91–94.</ref> Năm sau, ông đã nói về lợi ích của cuộc chiến, hi vọng sẽ được tham chiến sau khi thay đổi quan điểm, nhưng điều đó không đến. Đô đốc thậm chí không hồi đáp lại đề nghị của ông.<ref>Ziegler, tr. 94.</ref> Ông không từ bỏ hi vọng được bổ nhiệm trở lại. Năm [[1798]] ông được bổ nhiệm là đô đốc, nhưng hoàn toàn chỉ là trên danh nghĩa.<ref>Ziegler, tr. 95.</ref> Mặc dù liên tục kiến nghị, ông không bao giờ được gọi lại quân ngũ trong suốt thời gian diễn ra [[Các cuộc chiến tranh của Napoleon]].<ref>Ziegler, tr. 95–97.</ref> Năm [[1811]], ông được bổ nhiệm vào một vị trí danh dự là [[Đô đốc hạm đội (hải quân hoàng gia)|Đô đốc hạm đội]]. Năm [[1813]], ông có thể đến gần một cuộc chiến đấu thực sự, khi ông đến úy lạo quân đội Anh đang tham chiến ở [[Hà Lan|Vùng đất thấp]]. Khi ông đang quan sát cuộc oanh tạc ở [[Antwerp]] từ một tháp chuông nhà thờ, một viên đạn đã bắn xuyên qua áo choàng của ông.<ref>Ziegler, tr. 115.</ref>
 
Thay vì phục vụ trên biển, ông dành thời gian ở Thượng viện, những bài phát ngôn của ông chống đối việc bãi bỏ chế độ nô lệ, mặc dù chế độ này không tồn tại ở Anh nhưng vẫn còn ở các thuộc địa Anh. Sự tự do sẽ làm những người nô lệ it tốt hơn, ông lập luận. Ông đi nhiều nơi và, trong mắt ông, mức sống của những người tự do ở [[Cao nguyên và vùng đảo]] cuủa Scotland tồi tệ hơn so với những người nô lệ ở Tây Ấn.<ref>Ziegler, tr. 54.</ref> Kinh nghiệm của ông ở Tây Ấn khiến cho ý kiến của ông có trọng lượng, trong các cuộc tranh luận chỉ với một số những đương thời.<ref>Ziegler, tr. 97–99.</ref> Một số khác nghĩ rằng "thật sửng sốt khi một người còn quá trẻ, không dưới ảnh hưởng của sở thích, có thái độ đứng đắn trong việc tiếp tục buôn bán nô lệ".<ref>[[Zachary Macaulay]] viết cho Quý cô Mills, [[1 tháng 6]], năm [[1799]], trích dẫn trong Ziegler, tr. 98.</ref> Trong bài phát biểu tại Thượng viện, Công tước lăng mạ [[William Wilberforce]], người đứng đầu phe bãi nô, nói: "những người đề xuất bãi bỏ (nô lệ) là cuồng tín hoặc là đạo đức giả, và tôi coi ông Wilberforce là một trong số đó".<ref>Fulford, tr. 121.</ref> Với những vấn đề khác, ông thiên về tự do hơn, chẳng hạn như ông ủng hộ việc bãi bỏ [[luật hình sự (Anh)|các luật hình sự]] chống lại những người bất đồng với đạo Cơ đốc.<ref>Ziegler, tr 99.</ref> Ông cũng chống đối những nỗ lực nhằm cấm không cho [[người ngoại tình]] được tái hôn.<ref>Fulford, tr. 121–122.</ref>
 
== Các mối quan hệ và hôn nhân ==
 
=== Danh hiệu ===
* '''21 tháng 8 năm 1765&nbsp;– 16 tháng 5 năm 1789''': ''[[His Royal Highness]]'' Hoàng tử William Henry
* '''16 tháng 5 năm 1789&nbsp;– 26 tháng 6 năm 1830''': ''His Royal Highness'' Công tước Clarence và St Andrews
* '''26 tháng 6 năm 1830&nbsp;– 20 tháng 6 năm 1837''': ''[[Đức vua Bệ hạ]]''
 
=== Danh hiệu ===
'''Danh hiệu ở Anh'''<ref name=cokayne>[[George Cokayne|Cokayne, G.E.]]; [[Vicary Gibbs (MP)|Gibbs, Vicary]]; Doubleday, H. A. (1913). ''The Complete Peerage of England, Scotland, Ireland, Great Britain and the United Kingdom, Extant, Extinct or Dormant'', London: St. Catherine's Press, [https://archive.org/stream/completepeerageo03coka#page/260/mode/2up Vol. III, p. 261].</ref>
* ''5 tháng 4 năm 1770'': [[Hiệp sĩ Thistle]]
* ''19 tháng 4 năm 1782'': [[Hiệp sĩ Garter]]
* ''23 tháng 6 năm 1789'': Thành viên [[Hội đồng Cơ mật Vương quốc Anh]]
* ''2 tháng 1 năm 1815'': [[Hiệp sĩ xứ Bath|Knight Grand Cross of the Order of the Bath]]
* ''12 tháng 8 năm 1815'': [[Royal Guelphic Order|Knight Grand Cross of the Royal Guelphic Order]]
| colspan="4" | '''''Với [[Dorothea Jordan|Dorothea Bland]]'''''
|-
| [[George FitzClarence, Bá tước Munster thứ nhất]] || 29 tháng 1 năm 1794 || 20 tháng 1 năm 1842 || Kết hôn với Mary Wyndham, có con. Tự tử ở tuổi 48.
|-
| [[Henry FitzClarence]] || 27 tháng 3 năm 1795 || tháng 9 năm 1817 || Chết không kết hôn, tuổi 22.
|-
| [[Sophia Sidney, Nữ Nam tước De L'Isle và Dudley|Sophia FitzClarence]] || Tháng 8 1796 || 10 tháng 4 năm 1837 || Kết hôn với [[Philip Sidney, Nam tước De L'Isle và Dudley thứ nhất]], và có con.
|-
| [[Lady Mary Fox|Mary FitzClarence]] || 19 tháng 12 năm 1798 || 13 tháng 7 năm 1864 || Kết hôn với [[Charles Richard Fox]], không có con.
|-
| [[Lord Frederick FitzClarence]] || 9 tháng 12 năm 1799 || 30 tháng 10 năm 1854 || Kết hôn với Lady Augusta Boyle, một con gái sống sót.
|-
| [[Elizabeth Hay, Nữ Bá tước Erroll|Elizabeth FitzClarence]] || 17 tháng 1 năm 1801 || 16 tháng 1 năm 1856 || Kết hôn [[William Hay, Bá tước Erroll thứ 18]], có con.