Mở trình đơn chính

Các thay đổi

thêm nội dung,
{{Đang viết}}
'''Họ người Hoa''' được sử dụng bởi [[người Hoa]] và các dân tộc bị [[Hán hóa]] ở [[Trung Quốc Đại lục]], [[Hong Kong|Hồng Kông]], [[Macau]], [[Malaysia]], [[Đài Loan]], [[Hàn Quốc]], [[Triều Tiên]], [[Singapore]], [[Việt Nam]] và các cộng đồng [[Hoa kiều]]. Vào thời cổ xưa, hiện hữu hai dạng [[họ]], gọi là ''Tính'' ({{zh|t=[[wikt:姓|姓]]|p=xìng}}) (dựa trên huyết thống), và ''Thị'' ({{zh|t=[[wikt:氏|氏]]|p=shì}}) (tên bộ lạc).
 
Gia đình người Hoa theo [[chế độ phụ hệ]], nên họ cũng truyền từ cha sang con. (Trường hợp nhận con nuôi, người con đó thường cũng lấy họ người cha nuôi làm họ mình.) Phụ nữ người Hoa không đổi họ mình sau khi kết hôn, ngoại trừ những nơi bị ảnh hưởng phương Tây ở mức độ cao như Hồng Kông. Theo truyền thống, hôn phối của người Hoa là hôn nhân dị tộc, cho nên, người vợ không cùng họ với nhà chồng.<ref>Chinese Society in Singapore, The Study of Chinese Society: Essays, Maurice Freedman, George William Skinner, Stanford University Press, 1979, pp. 133</ref><ref>The Eclectic Magazine of Foreign Literature, Science, and Art, Volume 38; Volume 101, Harry Houdini Collection, John Davis Batchelder Collection, Leavitt, Trow, & Company, 1883 p. 852</ref>
Trước thời [[Chiến Quốc]] (thế kỷ thứ V TCN), chỉ có các gia đình quyền thế và tầng lớp tinh hoa quý tộc mới có họ. Theo truyền thống lịch sử '''tính''' (姓) và '''thị''' (氏) có nhiều khác biệt. '''''Tính''''' được các bộ lạc quyền quý sở hữu. Về mặt tổng thể, các ''tính'' này có bộ thủ nữ (女), được xem như là chứng tích của [[chế độ mẫu quyền|xã hội mẫu hệ]], được truyền theo dòng nữ. Một giả thuyết khác của nhà Hán học Léon Vandermeersch dựa trên các quan sát về sự thay đổi tự dạng trong [[giáp cốt văn]] từ thời [[nhà Thương]] tới thời [[nhà Chu]]. Có vẻ như bộ thủ nữ xuất hiện trong các chữ Hán tạo thành trong giai đoạn nhà Chu sau nhà Thương để chỉ tới các nhóm sắc dân hoặc bộ lạc. Với lối tạo chữ này, có lẽ người xưa muốn biểu đạt ý nghĩa "người phụ nữ như thế hoặc một bộ lạc như thế". Tự hình chữ ''tính'' (姓) có thể phản ánh một điều hiện hữu là thời đại nhà Chu, ít nhất là ở thời kỳ đầu, chỉ nó nữ giới (những người vợ đến từ các bộ lạc khác nhau được gã vào họ nhà Chu) được gọi bằng tên bộ lạc mà họ sinh ra, trong khi nam giới được gọi bằng danh xưng hoặc thái ấp của họ.
 
Trước triều đại [[Nhà Tần]] (thế kỷ thứ III TCN), Trung Hoa là một chế độ phong kiến rộng lớn. NhiềuKhi nướcđó, chư'''''thị''''' hầuxuất đượchiện tạokèm ratheo bằngsự cáchhình phânthành chiachế tháiđộ ấpphụ chohệ cáctrong hậunền duệvăn đờihóa sau,Trung thếHoa nên ''thị''cấu xuấttrúc hiện đểhội phânphức biệttạp sựhơn. Cùng một tính sẽ có nhiều thị khác biệtnhau, vaithị vếra giữađời cácđể chiđáp họứng thuộcnhu tầngcầu lớpphân tinhbiệt hoagiữa những cùngngười chung tổmột tiêntính. Trong giai đoạn này, một người xuất thân quyền quý sẽ vừa mang ''thị'' vừa mang ''tính''. Sau khidụ, các tiểuvua quốc Trunghoàng Hoa đượcthân [[TầnTrịnh Thủy(nước)|nước HoàngTrịnh]] chinhvốn phạtmang tính thống nhất[[Cơ lại(họ)|Cơ]] vào(姬), nămsau 221lấy TCN,tên cácnước tầng lớp[[Trịnh thấp(họ)|Trịnh]] hơn(鄭) tronglàm thị hộicủa cũngmình từđể từphân đượcbiệt mangvới họnhững người sựcũng có tính là Cơ khác.<ref>{{Chú biệtthích giữaweb|url=http://www.scmp.com/magazines/post-magazine/long-reads/article/2046955/complex-origins-chinese-names-demystified|title=The ''tính''complex origins ''thị''of cũngChinese mờnames nhạtdemystified|date=2016-11-18|accessdate=2017-05-20|website=South hẳnChina đi.Morning Post|publisher=South China Morning Post|author=WEE KEK KOON}}</ref>
 
Sau khi các tiểu quốc Trung Hoa được [[Tần Thủy Hoàng]] chinh phạt và thống nhất lại vào năm 221 TCN, các tầng lớp thấp hơn trong xã hội cũng từ từ được mang họ và sự khác biệt giữa ''tính'' và ''thị'' cũng mờ nhạt hẳn đi.
 
Nhiều ''thị'' vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Theo [[Giang Kháng Hổ]] (江亢虎), họ người Trung Hoa bắt nguồn từ 18 nguồn,<ref>{{chú thích sách |title= On Chinese Studies |author=Kiang Kang-Hu |pages=127–8 |year=1934 |url=https://books.google.com/books/about/On_Chinese_studies.html?id=rSYhAAAAMAAJ }}</ref> trong khi một số học giả khác cho rằng con số này là 24.<ref>{{chú thích sách |title=In Search of Your Asian Roots: Genealogical Research on Chinese Surnames |author=Sheau-yueh J. Chao |isbn=978-0806349466 |publisher=Clearfield |year= 2009 |url=https://books.google.com/books?id=t26Iv0Octa0C&pg=PA4 |pages=4–7 }}</ref> Nhiều họ gắn liền với triều đại đương quyền (tước hiệu và tên người lãnh đạo, tầng lớp quý tộc và triều đình), hoặc nhiều họ là các địa danh lãnh thổ, làng mạc, đô thị, kinh kỳ, tước hiệu quan lại hoặc nghề nghiệp, hoặc sự vật nào đó, hoặc được khởi phát từ tên của một thành viên trong gia đình hoặc thị tộc.<ref>{{chú thích sách |title=Chinese names |author=Russell Jones |publisher=Pelanduk Publications |pages=1–3 |year=1997|isbn= 978-9679786194 }}</ref> Dưới đây là một số nguồn gốc thường gặp: