Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Người Hitti”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
'''Hittite''' là một dân tộc nói [[hệ ngôn ngữ Ấn-Âu|hệ ngôn ngữ Ấn - Âu]] ở [[Tiểu Á]] [[thời đại đồ đá|thời kỳ đồ đá]]. Họ đã thành lập một vương quốc xung quanh [[Hattusa]] phía bắc Tiểu Á khoảng thế kỷ 18 TCN. [[Đế quốc Hittite|Đế chế Hittite]] đã đạt tới thời kỳ cực thịnh vào khoảng thế kỷ 14 TCN, bao gồm một khu vực rộng lớn của Tiểu Á, tây bắc [[Syria]] Litani, phía nam xa tận xuống cửa [[sông Litani]] ([[Liban]] ngày nay). Quân đội Hittite sử dụng thành thạo [[chiến xa|xe ngựa kéo]] (Chariot) trong chiến đấu<ref>Kate Santon: ''Archaeology'', Parragon Books Ltd, London 2007</ref>. Vào giữa thế kỷ 14 TCN (dưới thời vua [[Suppiluliuma I]]), họ đã hình thành một đế chế bao gồm phần lớn Tiểu Á cũng như nhiều phần ở phía bắc [[Levant]] và [[Al-Jazira, Lưỡng Hà|Thượng Lưỡng Hà]]. Sau khoảng năm 1180 TCN, đế chế bị phân chia thành nhiều thành bang "Tân Hittite" độc lập, một số tồn tại đến tận thế kỷ 8 TCN.
 
[[Tiếng Hittite]] thuộc [[ngữ tộc Tiểu Á|nhóm ngôn ngữ Tiểu Á]] của [[họhệ ngôn ngữ Ấn - Âu]]<ref>Dr Andrew McCarthy, University of myles {{Clarify|date=August 2011}} c gy 1B Lecture{{Verify source|date=January 2010}}</ref>. Vốn dĩ họ gọi vùng đất của họ là "Hatti" và ngôn ngữ họ dùng là ''Nesili'' (ngôn ngữ của ''Nesa'').
 
Dù thuộc [[thời đại đồ đồng|thời kỳ đồ đồng]], dân tộc Hittite là những người tiền bối của [[thời đại đồ sắt|thời kỳ đồ sắt]]. Họ đã phát triển kỹ thuật tạo tác đồ sắt ngay từ thế kỷ 14 TCN.