Khác biệt giữa các bản “Lương (họ)”

nên đưa xuống phần liên kết ngoài
(nên đưa xuống phần liên kết ngoài)
Vào đầu Công nguyên thì người phương Nam nói chung chưa có họ. Khi người Hán hoàn thành việc chiếm [[Âu Lạc]], thực hiện cai trị thì trong quản lý người có việc đặt tên họ theo kiểu Hán và viết được bằng chữ Hán. Sử sách không ghi chép lại về quy định chọn họ tên này. Tự chọn ra họ là tình trạng chung của nhiều họ, cũng như cả một số dân thiểu số tại Việt Nam sau này. Việc chọn họ có thể là khá tùy tiện, trong đó có người chọn họ Lương. Tại [[Hồng Việt, Đông Hưng|xã Hồng Việt]], [[Đông Hưng|huyện Đông Hưng]], [[Thái Bình]] đã có hai chị em Lương Thị Kiền và Lương Thị Tấu là hai vị nữ tướng tham gia khởi nghĩa [[Hai Bà Trưng]]<ref name=TBO>Phạm Minh Đức. [http://baothaibinh.com.vn/39/36753/Diem_tua_de_Hong_Viet_tro_thanh_xa_anh_hung.htm Điểm tựa để Hồng Việt trở thành xã anh hùng]. Thái Bình Online, 27/4/2015. Truy cập 28/11/2015.</ref>, và có thể là người họ Lương tại Việt Nam sớm nhất ghi nhận được.
 
Nguyễn Khôi trong cuốn ''Các Dân tộc ở Việt Nam, cách dùng Họ và đặt Tên'' <ref>Nguyễn Khôi. Các Dân tộc ở Việt Nam, cách dùng Họ và đặt Tên. Nhà Xuấtxuất bản Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2006.</ref> cho rằng: “Các họ phổ biến của người Thái là: Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà, cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Hoàng, Khằm, Leo, Lều, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc, Lự, Lường, Mang, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, Sa, Xin. Trong đó 12 họ gốc là Lò, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡo, Mè, Lù, Lềm, Ngần, Nông”.
 
Ông cũng cho rằng “Họ Lường còn gọi là họ Lương” và chép một truyền thoại về dòng họ là: “Sau nạn hồng thuỷ, chỉ còn sống sót một cặp vợ chồng. Người vợ có một thỏi đồng liền đem ra nấu và đúc thành dụng cụ. Quá trình đúc đồng được chia làm mấy giai đoạn như: lúc đầu làm đồng nguyên, sau nấu gọi là lô, muốn tăng sức nóng thì phải quạt, rồi đảo quấy đều, sau đó thành nước loãng, đem luyện lại, tô luyện thành công cụ rắn chắc. Vì vậy khi sinh con, họ đặt cho con đầu lòng mang họ Tông (đồng), con thứ hai là Ló nay gọi là Lò (lô), con thứ ba họ Ví (quạt), con thứ tư họ Quá (quàng), con thứ năm họ Đèo (đồng thành nước), con thứ sáu họ Liếng (đã luyện) nay gọi chệch là Lường viết bằng Hán tự là Lương, con thứ bảy họ Cả (tôi luyện rắn thành công cụ), nay gọi là Cà”.
* Tỉnh [[Sơn Tây]] có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Trọng Lịch
* Tỉnh [[Hà Tĩnh]] có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Công Anh
* Tỉnh Quảng Nam (làng Bảo An nay là xã Điện Quang huyện Điện Bàn): Thủy tổ tộc Lương: Lương văn Sỹ (thường gọi là ông Áo) (blog: [https://tocluongbaoan.blogspot.com https://tocluongbaoan.blogspot.com])
 
Từ đời [[Nhà Tiền Lê|Tiền Lê]], tộc Lương phát triển đến nhiều tỉnh khác nhau. Ở [[Hòa Bình, Kiến Xương|xã Hoà Bình]], huyện [[Kiến Xương]], tỉnh Thái Bình có dòng họ Lương với hàng trăm con cháu, thấy các cụ bảo họ Lương nhà ta xuất thân từ Sơn Tây về đây lập nghiệp.
 
== Liên kết ngoài ==
*[https://tocluongbaoan.blogspot.com tocluongbaoan.blogspot.com]
 
{{Họ người Việt}}