Khác biệt giữa các bản “Sông Đuống”

n
 
== Dòng chảy ==
Điểm đầu từ ngã ba Dâu<ref name=DS /> (xã [[Xuân Canh]], huyện [[Đông Anh]], thành phố [[Hà Nội]] tại địa giới giữa 2 đơn vị hành chính là huyện [[Đông Anh]] và quận [[Long Biên]] của thành phố Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Mỹ Lộc<ref name=DS /> (giáp ranh giữa [[Trung Kênh]], [[Cao Đức]] và [[Cổ Thành, Chí Linh|Cổ Thành]]) cách ngã ba Lác (nơi sông Cầu hợp lưu với sông Thương thành sông Thái Bình) khoảng 3 km.
 
Về tổng thể sông Đuống chảy theo hướng tây-đông. Nó là một phân lưu của [[sông Hồng]], trước đây chỉ là một dòng sông nhỏ, do cửa nối với sông Hồng bị cát bồi cao nên chỉ khi sông Hồng có lũ lớn mới tràn qua được. Từ năm 1958, cửa sông được mở rộng để trở thành một phân lưu quan trọng giảm sức uy hiếp của lũ sông Hồng đối với Hà Nội. So với lượng lũ của sông Hồng tại [[Sơn Tây, Hà Nội|Sơn Tây]] thì sông Đuống tiêu được 20-30 %. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, tại Thượng Cát?<!--Từ Liêm, Hà Nội.-->, lưu lượng nước trung bình nhiều năm 880 m³/s, còn theo website tỉnh Bắc Ninh thì lưu lượng trung bình đạt khoảng 1.000 m³/s<ref name=BN>[http://www.bacninh.gov.vn/Intro/3.html Điều kiện tự nhiên tỉnh Bắc Ninh], với lưu lượng 31,6 tỷ m³/năm.</ref>. Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất 9.000 m³/s (ngày [[22 tháng 8]] năm [[1971]]). Đoạn chảy qua Bắc Ninh dài 42&nbsp;km<ref name=BN />. Mực nước cao nhất tại bến Hồ vào tháng 8 năm 1945 là 9,64 m<ref name=BN />, cao hơn so với mặt ruộng là 3 đến 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m³ nước có 2,8&nbsp;kg phù sa<ref name=BN />.