Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Thạch (đơn vị đo lường)”

không có tóm lược sửa đổi
n (robot Thêm: en:Koku)
Không có tóm lược sửa đổi
{{thiếu nguồn gốc}}
{{Two other uses||bài hát shakuhachi vào thế kỷ 13|Kokū|một nhân vật khổng lồ trong tiểu thuyết|Tom Swift}}
'''Thạch'''(石, ''koku'') hay '''Thạch cao''' (石高) là một [[đơn vị đo lường Nhật Bản]] dùng để tính thể tích, một thạch tương đương với mười ''[[xích (Nhật Bản)|xích]]'' khối hay mười thước (Nhật) khối. Cụ thể, 3,5937 ''thạch'' có thể tích tương đương một [[mét khối]] hay 1 ''thạch'' tương đương 278.3 [[lít]]. Ban đầu, đơn vị ''thạch'' dùng để đo dung tích [[gạo]], theo các tài liệu sử thì 1 thạch gạo tương đương với số gạo một người tiêu thụ trong 1 năm (còn 1 ''[[Masu (Nhật Bản)|đấu]]'' là lượng gạo 1 người tiêu thụ trong 1 ngày). Tính ra thì 1 thạch gạo nặng 150 kilôgram (23,6 stone hay 330 pound). Kể từ năm 1891 trở đi, 1 thạch được quy định chính xác là {{Frac|240100|1331}} lít, tương đương 180,39 lít (5 [[bushel]] hay 48 [[gallon]]), một con số nhỏ hơn con số cũ.
 
Trong [[Thời kỳ Giang Hộ]], mỗi [[phiên (Nhật Bản)|phiên]] đều tổ chức đánh giá thu nhập và số ruộng đất của mình bằng [[đơn vị đo lường|đơn vị]] thạch. Phiên có thu nhập thấp nhất (và diện tích nhỏ nhất) là "phiên một vạn thạch", còn phiên Kaga - lãnh chúa lớn nhất sau Mạc phủ - được gọi là "phiên một trăm vạn thạch" (cụ thể là 1,025 triệu thạch). Phần lớn các [[samurai|võ sĩ]], kể cả hạng võ sĩ cấp cao ''[[hatamoto]]'' vẫn nhận bổng lộc bằng gạo chứ không phải bằng tiền, và vì vậy số bổng lộc này cũng được tính bằng thạch. Ở các phiên Tōhoku và [[Hokkaidō]] - nơi không phải lúc nào cũng trồng lúa được - thì họ vẫn duy trì đơn vị "thạch" but was not adjusted from year to year. Chú ý là có một số phiên có giá trị nền kinh tế lớn hơn con số "thạch" được thống kê rất nhiều, điều này giúp họ có thể đầu tư nhiều hơn vào một số dự án phát triển kinh tế. ''Thạch'' cũng được dùng làm đơn vị tính sức chứa của những chiếc thuyền chở gạo. Những chiếc thuyền nhỏ thường là loại "50 thạch" (7,5 tấn), trong khi đó loại lớn nhất có dung tích lên tới 1 nghìn thạch (150 tấn), những chiếc này còn lớn hơn cả các tàu chiến trong đội thuyền của Mạc phủ.
Kể từ năm 1891 trở đi, 1 thạch được quy định chính xác là {{Frac|240100|1331}} lít, tương đương 180,39 lít (5 [[bushel]] hay 48 [[gallon]]), một con số nhỏ hơn con số cũ.
 
Sau cuộc [[Minh Trị duy tân]], Nhật Bản chuyển sang dùng các đơn vị đo lường thuộc [[hệ mét]] và vì vậy các đơn vị cũ như "thạch" dần dần bị bãi bỏ. Nhưng đơn vị ''thạch'' hiện nay vẫn được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp khai thác và chế biến gỗ của Nhật Bản.
Trong [[Thời kỳ Giang Hộ]], mỗi [[phiên (Nhật Bản)|phiên]] đều tổ chức đánh giá thu nhập và số ruộng đất của mình bằng [[đơn vị đo lường|đơn vị]] thạch. Phiên có thu nhập thấp nhất (và diện tích nhỏ nhất) là "phiên một vạn thạch", còn phiên Kaga - lãnh chúa lớn nhất sau Mạc phủ - được gọi là "phiên một trăm vạn thạch" (cụ thể là 1,025 triệu thạch). Phần lớn các [[samurai|võ sĩ]], kể cả hạng võ sĩ cấp cao ''[[hatamoto]]'' vẫn nhận bổng lộc bằng gạo chứ không phải bằng tiền, và vì vậy số bổng lộc này cũng được tính bằng thạch. Ở các phiên Tōhoku và [[Hokkaidō]] - nơi không phải lúc nào cũng trồng lúa được - thì họ vẫn duy trì đơn vị "thạch" but was not adjusted from year to year. Chú ý là có một số phiên có giá trị nền kinh tế lớn hơn con số "thạch" được thống kê rất nhiều, điều này giúp họ có thể đầu tư nhiều hơn vào một số dự án phát triển kinh tế.
 
''Koku'' was also used to measure how much a ship could carry when all its loads were rice. Smaller ships carried 50 ''koku'' (7.5 t) while the biggest ships carried over 1,000 ''koku'' (150 t). The biggest ships were actually larger than military vessels owned by the Shogunate.
 
In the [[Meiji period]] (1868–1912), Japanese units such as the ''koku'' were abolished and the [[metric system]] was installed.
 
The [[Hyakumangoku Matsuri]] (Million-Koku Festival) in [[Kanazawa, Ishikawa|Kanazawa]], Japan celebrates the arrival of Lord Maeda Toshiie into the city in 1583, although the Maeda's income was not actually raised to over a million ''koku'' until after the Battle of [[Sekigahara]] in 1600.
 
==Xem thêm==
The ''koku'' unit is still commonly used in the lumber industry in Japan.
 
==See also==
* [[Kokudaka]]