Khác biệt giữa các bản “Felipe III của Tây Ban Nha”

n
→‎top: clean up, replaced: → (34), → (22) using AWB
(AlphamaEditor, thêm thể loại, Executed time: 00:00:34.5849782 using AWB)
n (→‎top: clean up, replaced: → (34), → (22) using AWB)
{{Infobox royalty|monarch
| name =Philip III của Tây Ban Nha
| succession ={{plainlist|
*[[Vua Tây Ban Nha|Vua của Tây Ban Nha]] và [[Danh sách vua Bồ Đào Nha|Bồ Đào Nha]]
*[[Danh sách Vua của Napoli|Vua của Napoli]], [[Danh sách Vua của Sicily|Sicily]] và [[Danh sách Vua của Sardegna|Sardegna]]
*[[Danh sách Vua chúa Milan|Công tước Milan]]
}}
| reign = [[13 tháng 9]] năm [[1598]] – [[31 tháng 3]] năm [[1621]]
| predecessor =[[Felipe II của Tây Ban Nha|Felipe II]]
| successor =[[Felipe IV của Tây Ban Nha|Felipe IV]]
| image =[[Tập tin:Felipe-III-de-Espana A-Vidal.jpg|245px]]
| sinh = [[14 tháng 4]] năm [[1578]]
| nơi sinh =[[Madrid]], [[Tây Ban Nha]]
| mất = [[31 tháng 3]] năm [[1621]] (42 tuổi)
| nơi mất =[[Madrid]], [[Tây Ban Nha]]
| burial_place =[[El Escorial]]
| spouse =[[Margaret của Áo (1584-1611)|Margaret của Áo]]
| issue ={{plainlist|
*[[Anne của Áo|Anne, Hoàng hậu Pháp]]
*[[Felipe IV của Tây Ban Nha]]
*[[Hồng y-Hoàng tử Ferdinand]]
}}
| house =[[Nhà Habsburg]]
| father =[[Felipe II của Tây Ban Nha]]
| mother =[[Anna của Áo (1549-1580)|Anna của Áo]]
| religion =[[Công giáo Roma]]
| signature =Firma del Rey Felipe III.svg
|}}
'''Felipe III của Tây Ban Nha''' ({{lang-es|Felipe III}}; 14 tháng 4 năm 1578 – 31 tháng 3 năm 1621) là [[Vua Tây Ban Nha|Vua của Tây Ban Nha]] (''Felipe III'' ở [[Vương quốc Castile|Castile]] và ''Felipe II'' ở [[Vương quốc Aragon|Aragon]]) và [[Danh sách vua Bồ Đào Nha|Bồ Đào Nha]] ({{lang-pt|Filipe II}}). Là một thành viên của [[Nhà Habsburg]], Felipe III sinh ở [[Madrid]] với Vua [[Felipe II của Tây Ban Nha]] và người vợ thứ 4 cũng như cháu gái [[Anna của Áo (1549-1580)|Anna]], con gái của Hoàng đế La Mã Thần thánh [[Maximilian II, Hoàng đế La Mã Thần thánh|Maximilian II]] và [[Maria của Tây Ban Nha]]. Philip III sau đó kết hôn với người em họ [[Margaret của Áo, Nữ hoàng Tây Ban Nha|Margaret của Áo]], em gái của [[Ferdinand II, Hoàng đế La Mã Thần thánh]].
Ở Tây Ban Nha, ông cũng được gọi là '''Philip sùng đạo''',<ref>Stradling, p. 9.</ref> Danh tiếng chính trị của Philip ở nước ngoài phần lớn là tiêu cực - một người đàn ông không tầm thường và không đáng kể, một 'vương quốc khốn khổ', mà 'đức hạnh chỉ có vẻ như sống trong một sự vắng mặt hoàn toàn không có lý do bởi các sử gia C. V. Wedgwood, R. Stradling và J. H. Elliott.<ref>Wedgwood, p. 55; Stradling, p. 18; Elliott, 1963, pp. 300–301.</ref> Đặc biệt, sự tin cậy của Philip vào vị bộ trưởng tham nhũng của ông, Francisco Goméz de Sandoval y Rojas, Công tước xứ Lerma, công tước xứ Lerma, đã thu hút nhiều lời chỉ trích vào thời điểm đó và sau đó. Đối với nhiều người, sự sụt giảm vị thế của Tây Ban Nha có thể là do những khó khăn kinh tế đã đặt ra trong những năm đầu của triều đại ông. Tuy nhiên, với tư cách là nhà cai trị của Đế quốc Tây Ban Nha ở độ cao của nó và là vị vua đã đạt được hòa bình tạm thời với người Hà Lan (1609-1621) và đưa Tây Ban Nha vào Bauda Năm Chiến tranh] (1618-48) thông qua một chiến dịch (ban đầu) rất thành công, triều đại của Philip vẫn là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Tây Ban Nha.