Khác biệt giữa các bản “USS Alaska (CB-1)”

n
n
Một sử gia đã mô tả quá trình thiết kế lớp ''Alaska'' là một sự "dày vò đau khổ" do nhiều thay đổi và cải biến trên thiết kế của con tàu bởi nhiều cá nhân và bộ phận.<ref name=Worth305/> Thực ra, kế hoạch đưa đến ít nhất chín thiết kế khác nhau,<ref>Dulin, Jr. và Garzke, Jr., trang 179–183.</ref> trải từ thiết kế như kiểu tàu tuần dương phòng không 6.000 tấn thuộc [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Atlanta'']]<ref name=Dulin179/> cho đến các kiểu [[tàu tuần dương]] hạng nặng "phình to"<ref name=Worth305/> và một kiểu [[thiết giáp hạm]] tí hon tải trọng 38.000 tấn trang bị 12 pháo 305 mm (12 inch) và 16 pháo 127 mm (5 inch).<ref name=Dulin179>Dulin, Jr. và Garzke, Jr., trang 179.</ref> Nhằm mục đích giữ cho tải trọng con tàu dưới mức 25.000 tấn, Ban chỉ huy Hải quân đã cho phép các thiết kế chỉ có sự bảo vệ hạn chế bên dưới mực ngấn nước. Kết quả là khi chế tạo, lớp ''Alaska'' khá mong manh trước ngư lôi và đạn pháo rơi trước con tàu.<ref name=Dulin183>Dulin, Jr., Garzke, Jr., trang 183.</ref> Thiết kế cuối cùng được chọn là một phiên bản mở rộng của lớp tàu tuần dương hạng nặng ''Baltimore'' có hệ thống động lực giống như của [[Essex (lớp tàu sân bay)|lớp tàu sân bay ''Essex'']]. Con tàu này kết hợp dàn pháo chính gồm chín khẩu 305 mm (12 inch) cùng vỏ giáp bảo vệ đủ để chống lại đạn pháo 254 mm (10 inch) trong một thân tàu có khả năng di chuyển 61 km/h (33 knot).<ref name=Scarpaci17/> Vào lúc bắt đầu của việc phát triển, lớp tàu này sử dụng ký hiệu lườn CC, nhấn mạnh rằng chúng sẽ là những tàu chiến-tuần dương theo truyền thống của [[Lexington (lớp tàu chiến-tuần dương)|lớp ''Lexington'']];<ref group=A>Lớp tàu chiến-tuần dương ''Lexington'' sẽ mang các ký hiệu lườn từ CC-1 đến CC-6 nếu như chúng được chế tạo.</ref> tuy nhiên, ký hiệu này sau đó được đổi thành CB để thể hiện tên mới của chúng, "tàu tuần dương lớn", và mọi khái niện liên hệ chúng như là những tàu chiến-tuần dương đều bị chính thức phủ nhận.<ref name=Morison85/>
 
Lớp tàu mới được chính thức đặt hàng vào [[tháng 9]] năm [[1940]] cùng với một số lượng lớn đến mức thừa thảithãi các tàu chiến khác như một phần của [[Đạo luật Hải quân hai đại dương]].<ref name="Global Security"/><ref name=Rohwer40>Rohwer, trang 40.</ref><ref group=A>Cùng với những chiếc ''Alaska'', 210 tàu chiến khác được đặt hàng cùng lúc đó: hai thiết giáp hạm [[Iowa (lớp thiết giáp hạm)|lớp ''Iowa'']], năm thiết giáp hạm [[Montana (lớp thiết giáp hạm)|lớp ''Montana'']], mười hai tàu sân bay [[Essex (lớp tàu sân bay)|lớp ''Essex'']], bốn tàu tuần dương hạng nặng [[Baltimore (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Baltimore'']], 19 tàu tuần dương hạng nhẹ [[Cleveland (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Cleveland'']], bốn tàu tuần dương hạng nhẹ [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Atlanta'']], 52 tàu khu trục [[Fletcher (lớp tàu khu trục)|lớp ''Fletcher'']], 12 tàu khu trục [[Benson (lớp tàu khu trục)|lớp ''Benson'']] và 73 tàu ngầm [[Gato (lớp tàu ngầm)|lớp ''Gato'']].</ref> Vai trò của chiếc tàu chiến mới cũng thay đổi đôi chút; ngoài vai trò đối chiến trên mặt biển, chúng còn được sử dụng để bảo vệ các tàu sân bay. Vì có được cỡ pháo lớn hơn, tích thước lớn và tốc độ cao, chúng có giá trị hơn trong vai trò này hơn các tàu tuần dương hạng nặng, và chúng cũng là đảm bảo cho các báo cáo tình báo rằng Nhật Bản đang chế tạo các “siêu tuần dương” mạnh hơn các tàu tuần dương Mỹ.<ref name="Global Security"/>
 
=== Cải biến thành tàu sân bay ===
61.661

lần sửa đổi