Khác biệt giữa các bản “Chùa Tây An”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
Tương truyền, vào năm [[1820]] dưới triều [[Minh Mạng]], tổng đốc Nguyễn Nhật An đã cho dựng tạm một am thờ bằng tre lá nơi chân [[núi Sam]], mà bây giờ chùa Tây An tọa lạc.
 
Đến năm [[1847]] tổng đốc An-Hà ([[An Giang]] và [[Hà Tiên]]) [[Doãn Uẩn]], vui mừng vì lập được đại công đánh đuổi được quân [[Xiêm La]], bình định được [[Chân Lạp]], nên đã cho xây dựng lại bằng tường gạch, nền cuốn đá xanh, mái lợp ngói.; Đến nămđặt [[1861]],tên [[hòa thượng]]''Tây NhấtAn'' Thừavới chohàm trùngý tutrấn lạiyên chínhbời điện và hậu tổ. Đến nămcõi [[1958phía Tây]]<ref>Nhiều người soạn, hòa''Địa thượngchí NguyễnAn ThếGiang'' Mật(tập đứng2. raChính vậnquyền độngtỉnh xâyAn dựngGiang mớiấn bahành, ngôi2007, cổtr. 243). lầuNgoài ra, mặttên chính"Tây An" ngôicòn chính điện,đảo nêntự chùatên ''"An diệnTây" mạomưu nhưmưu ngàytướng'' hôm nay.nhà vua đã phong tặng cho ông.</ref>.
 
Năm [[1861]], [[hòa thượng]] Nhất Thừa cho trùng tu lại chính điện và hậu tổ. Năm [[1958]], hòa thượng Nguyễn Thế Mật đứng ra vận động xây dựng mới ba ngôi cổ lầu, mặt chính và ngôi chính điện, nên chùa có diện mạo như ngày hôm nay.
Và vị sư trụ trì đầu tiên là hòa thượng Nguyễn Văn Giác, pháp hiệu Hải Tịnh, tu theo phái [[Lâm Tế]], nên có người còn gọi chùa Tây An là chùa Lâm Tế <ref>Phái Lâm Tế: một trong năm dòng phái chánh: ''Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn''. Tất cả đều phát xuất từ [[Trung Quốc]].</ref>