Khác biệt giữa các bản “Scream/Childhood”

không có tóm lược sửa đổi
}}
 
'''"Scream/Childhood"''' là một đĩa đơn của nghệ sĩ thu âm người Mỹ [[Michael Jackson]] nằm trong album phòng thu thứ chín của ông, ''[[HIStory: Past, Present and Future, Book I]]'' (1995). "Scream" và "Childhood" lần lượt là bài ​​hát đầu tiên và thứ mười trên đĩa thứ hai ''HIStory Continues'' của album. "Scream" là một bản song ca của Jackson với em gái của ông [[Janet Jackson]], trong khi "Childhood" là một bài hát hátđược đơnthể củahiện bởi nam ca sĩ. Nó được phát hành vào ngày 31 tháng 5 năm 1995 bởi [[Epic Records]] như là đĩa đơn đầu tiên trích từ album.
 
"Scream" mang nội dung chủ yếu như là một bài hát trả đũa, trong đó liên hệ trực tiếp đến cácnhững tờ báo lá cải và chỉ ra nhữngnhiều tố cáo sai sự thật của họ về [[Vụ kiện lạm dụng tình dục trẻ em của Michael Jackson năm 1993|những cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em của Jackson năm 1993]]. Nó được viết lời, sáng tác và sản xuất bởi [[Jimmy Jam & Terry Lewis|Jimmy Jam, Terry Lewis]], Michael Jackson và Janet Jackson; trong đó Michael chơi hầu hết cácnhững nhạc cụ trong bài hát. "Scream" là sự kết hợp giữa những yếu tố của [[Nhạc pop|pop]], [[R&B đương đại|R&B]], [[electronic rock|electrorock]], [[new jack swing]], [[Nhạc dance|dance-pop]], và [[funk]]. Quá trình ghi âm cho bài hát đã được diễn ra tại Hit Factory ở thành phố New York vào tháng 10 năm 1994 và Flyte Tyme Studios ở Edina, Minnesota vào tháng 12 năm 1994. Bài hát đã bị tiết lộ cho các đài phát thanh sớm hơn dự định, mặc dù Epic đã cố gắng giữ nó đến ngày phát hành chính thức.
 
"Scream" đa phần nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ so sánh nó với những tác phẩm trước của Jackson. Bài hát đã nhận được đề cử cho một [[giải Grammy]] và một [[giải thưởng Âm nhạc Mỹ]]. Video ca nhạc của nó tính đến nay vẫn là một trong những thành tựu được hoan nghênh nhất trong sự nghiệp của nam ca sĩ, giànhchiến đượcthắng 3ba [[giải Video âm nhạc của MTV]] trên tổng số 11mười một đề cử, nhiều hơnmột bất[[giải Grammy]] videocho nào[[Giải khácGrammy trongcho lịchVideo sửâm cũngnhạc nhưxuất mộtsắc giảinhất|Video Grammyca nhạc hình thái ngắn xuất sắc nhất]]. Với chikinh phí 7thực hiện là bảy triệu đô-la, nó được liệt kê bởi ''[[Sách Kỷ lục Guinness]]'' như là video âmca nhạc tốn kém nhất từng được thực hiện; tuy nhiên, đạo diễn của video là [[Mark Romanek]] đã bác bỏ tuyên bố trên và cho rằng có hai video ca nhạc khác phát hành cùng thời điểm có giá trị đắt đỏ hơn so với "Scream".<ref>{{chú thích web | url = http://www.npr.org/blogs/therecord/2010/09/15/129890627/speaking-of-the-vmas-mark-romanek-wasn-t-there | tiêu đề = Mark Romanek: 'Never Let Me Go' Director On His Music Video Career | author = | ngày = | ngày truy cập = 8 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = NPR.org | ngôn ngữ = }}</ref> Những hình ảnh trong "Scream" đã tạo nên nguồn cảm hứng cho một số video đương đại, bao gồm "[[No Scrubs]]" (1999) bởi [[TLC (ban nhạc)|TLC]], "[[Shawty Get Loose]]" (2008) bởi [[Lil Mama]], "[[Stay the Night (bài hát của IMx)|Stay the Night]]" (1999) bởi [[IMx]], "[[Walkin' on the Moon]]" (2009) bởi [[The-Dream]], và "[[I'm Out]]" bởi [[Ciara]] hợp tác với [[Nicki Minaj]] (2013).
 
"Childhood" là một bảnbài hát mang tính chất tự sự được viết lời và sángsản tácxuất bởi Michael Jackson. Nội dung của bài hát xung quanh những trải nghiệm về thời thơ ấu khó khăn của Jackson. Nó sau đó đã trở thành bài hát chủ đề cho bộ phim năm 1995 ''[[Free Willy 2: The Adventure Home]]'', tiếp tục sự hợp tác của ông với loạt phim ''[[Free Willy]]''. "Childhood" đãcũng xuất hiện trêntrong một số album tổng hợp của Jackson, và nhận được những đánh giá trái chiều từ giới phê bình. Video ca nhạc củacho bài hát, trong đó ít điểm chung với bộ phim hỗ trợ, đã được giới phê bình khen ngợi. "Scream"/Childhood" đã trở thành đĩa đơn đầu tiên trong lịch sử 37 năm của bảng xếp hạng ''[[Billboard]]'' ra mắt ở vị trí thứ 5năm trên bảng xếp hạng [[Billboard Hot 100|''Billboard'' Hot 100]], cũng là vị trí cao nhất của nó. ĐâyTrên thị mộttrường hitquốc lớntế, trênđĩa toànđơn cầucũng gặt hái những thành công vượt trội, đạtđứng đầu các bảng xếp hạng ở Phần Lan, Ý, New Zealand và Tây Ban Nha, và lọt đếnvào top 5 ở hầu hết những thị trường lớn. Michael đã trình diễn "Scream" như là bài hát mở màn của chuyến lưu diễn [[HIStory World Tour]] (961996-971997), trong khi Janet đã trình diễn nó trong chuyến lưu diễn [[Number Ones, Up Close and Personal]] (2011) để tưởng nhớ người anh quá cố và [[Unbreakable World Tour (chuyến lưu diễn của Janet Jackson)|Unbreakable World Tour]] (2015-2016).
 
==Danh sách bài hát==
{{singlechart|Ireland2|6|song=Scream|accessdate=May 22, 2015}}
|-
|align="left"|Ý (''[[MusicaFederazione eIndustria dischiMusicale Italiana|FIMI]]'')<ref name="bill1">{{chú thích web|url=http://www.americanradiohistory.com/Archive-Billboard/90s/1995/BB-1995-06-24.pdf|title=Hits of the World|work=Billboard|accessdate=May 22, 2015}}</ref>
|align="center"|1
|-
{{singlechart|Billboardpopsongs|20|artist=Michael Jackson|accessdate=May 22, 2015}}
|-
!Bảng xếp hạng (2009)
!Vị trí<br />cao nhất
|-
|align="left"|Hoa Kỳ [[Hot Digital Songs|Digital Songs]] (''Billboard'')<ref>[{{BillboardURLbyName|artist=michael jackson|chart=Digital Songs}} U.S. Billboard Hot Digital Songs]</ref>
|align=center|49
|}
{{col-2}}
|align="center"|95
|-
|align="left"|Italy (Hit ParadeFIMI)<ref>{{chú thích web|url=http://www.hitparadeitalia.it/hp_yends/hpe1995.htm|title=I singoli più venduti del 1995|publisher=Hit Parade Italia|accessdate=May 23, 2015|language=Italian}}</ref>
|align="center"|26
|-