Khác biệt giữa các bản “Scream/Childhood”

không có tóm lược sửa đổi
"Scream" đa phần nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ so sánh nó với những tác phẩm trước của Jackson. Video ca nhạc của nó tính đến nay vẫn là một trong những thành tựu được hoan nghênh nhất trong sự nghiệp của nam ca sĩ, chiến thắng ba [[giải Video âm nhạc của MTV]] trên tổng số mười một đề cử, và một [[giải Grammy]] cho [[Giải Grammy cho Video âm nhạc xuất sắc nhất|Video ca nhạc hình thái ngắn xuất sắc nhất]]. Với kinh phí thực hiện là bảy triệu đô-la, nó được liệt kê bởi ''[[Sách Kỷ lục Guinness]]'' như là video ca nhạc tốn kém nhất từng được thực hiện; tuy nhiên, đạo diễn của video là [[Mark Romanek]] đã bác bỏ tuyên bố trên và cho rằng có hai video ca nhạc khác phát hành cùng thời điểm có giá trị đắt đỏ hơn.<ref>{{chú thích web | url = http://www.npr.org/blogs/therecord/2010/09/15/129890627/speaking-of-the-vmas-mark-romanek-wasn-t-there | tiêu đề = Mark Romanek: 'Never Let Me Go' Director On His Music Video Career | author = | ngày = | ngày truy cập = 8 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = NPR.org | ngôn ngữ = }}</ref> Những hình ảnh trong "Scream" đã tạo nên nguồn cảm hứng cho một số video đương đại, bao gồm "[[No Scrubs]]" (1999) bởi [[TLC (ban nhạc)|TLC]], "[[Shawty Get Loose]]" (2008) bởi [[Lil Mama]], "[[Stay the Night (bài hát của IMx)|Stay the Night]]" (1999) bởi [[IMx]], "[[Walkin' on the Moon]]" (2009) bởi [[The-Dream]], và "[[I'm Out]]" bởi [[Ciara]] hợp tác với [[Nicki Minaj]] (2013).
 
"Childhood" là một bài hát mang tính chất tự sự được viết lời và sản xuất bởi Michael Jackson. Nội dung của bài hát xung quanh những trải nghiệm về thời thơ ấu khó khăn của Jackson. Nó đã trở thành bài hát chủ đề cho bộ phim năm 1995 ''[[Free Willy 2: The Adventure Home]]'', tiếp tục sự hợp tác của ông với loạt phim ''[[Free Willy]]''. "Childhood" cũng xuất hiện trong một số album tổng hợp của Jackson, và nhận được những đánh giá trái chiều từ giới phê bình. Video ca nhạc cho bài hát, trong đó ít điểm chung với bộ phim hỗ trợ, đã được giới phê bình khen ngợi. "Scream"/Childhood" đã trở thành đĩa đơn đầu tiên trong lịch sử 37 năm của bảng xếp hạng ''[[Billboard]]'' ra mắt ở vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng [[Billboard Hot 100|''Billboard'' Hot 100]], và là vị trí cao nhất của nó. Trên thị trường quốc tế, đĩa đơn cũng gặt hái những thành công vượt trội, đứng đầu các bảng xếp hạng ở Phần Lan, Hungary, Ý, New Zealand và Tây Ban Nha, và lọt vào top 5 ở hầu hết những thị trường lớn. Michael đã trình diễn "Scream" như là bài hát mở màn của chuyến lưu diễn [[HIStory World Tour]] (1996-1997), trong khi Janet đã trình diễn nó trong chuyến lưu diễn [[Number Ones, Up Close and Personal]] (2011) để tưởng nhớ người anh quá cố và [[Unbreakable World Tour (chuyến lưu diễn của Janet Jackson)|Unbreakable World Tour]] (2015-2016).
 
==Danh sách bài hát==
|align="left"|Đức ([[GfK Entertainment|Official German Charts]])<ref>{{chú thích web|url=https://www.offiziellecharts.de/titel-details-3026|title=Michael Jackson - Scream|language=Đức|publisher=[[GfK Entertainment]]|accessdate=May 22, 2015}}</ref>
|align="center"|8
|-
|align="left"|Hungary ([[Mahasz|Single Top 40]])<ref>{{chú thích web|url=http://www.americanradiohistory.com/Archive-Music-and-Media/90s/1995/MM-1995-07-29.pdf|title=Top National Seller|work=Billboard|accessdate=ngày 18 tháng 9 năm 2017}}</ref>
|align="center"|1
|-
{{singlechart|Ireland2|6|song=Scream|accessdate=May 22, 2015}}