Khác biệt giữa các bản “Khủng hoảng tên lửa Cuba”

Lúc 9:00 a.m. giờ miền Đông Hoa Kỳ, thứ hai ngày 29 tháng 10, một thông điệp mới của nhà lãnh đạo Khrushchev được phát trên Đài phát thanh Moscow. Nhà lãnh đạo Khrushchev phát biểu rằng "chính phủ Liên Xô, ngoài những chỉ thị được đưa ra trước đây về việc ngưng tiến hành xây dựng các vị trí dành cho vũ khi, đã đưa ra một lệnh mới là tháo bỏ các vũ khí mà ngài cho là "vũ khí tấn công" cùng với thùng chứa chúng và đưa chúng trở về Liên Xô."
 
Ngay lập tức Tổng thống Kennedy đáp lại bằng cách đưa ra một lời tuyên bố, gọi lá thư của nhà lãnh đạo Liên Xô là "một sự đóng góp có tính xây dựng và quan trọng đối với hòa bình". Ông tiếp tục bằng một lá thư chính thức: "ITôi considerxem my letterthư tocủa youtôi ofgởi Octobercho twenty-seventhngài andvào yourngày reply27 oftháng today10 as firmviệc undertakingsngài onphúc theđáp parthôm ofnay bothnhư our governmentsnhững whichcam shouldkết bechắc promptlychắn carriedtừ outcả hai phía chính phủ của chúng ta mà hiện đang được tiến hành một cách nhanh chóng... TheHoa U.S.Kỳ willsẽ makeđưa ara statementmột intuyên thebố frameworktrong ofkhuôn thekhổ Securitycủa CouncilHội đồng Bảo an liên quan inđến referencevấn tođề Cuba asnhư followssau: it willsẽ declaretuyên thatbố therằng UnitedHoa StatesKỳ ofsẽ Americatôn willtrọng respectsự thevẹn inviolabilitytoàn oflãnh Cuban bordersthổ, itschủ sovereigntyquyền của Cuba, thatrằng itHoa takeKỳ thesẽ pledgecam notkết tokhông interferecan inthiệp internalvào affairscông việc nội bộ, notkhông toxâm intrudenhập themselves andkhông notcho tophép permitsử ourdụng territorylãnh tothổ becủa usedmình aslàm anơi bridgeheadxuất forphát thetiến invasionhành ofxâm chiếm Cuba, and willsẽ restrainngăn thosechặn whonhững wouldai plan tokế carryhoạch antiến aggressionhành againstmột cuộc xâm chiếm chống Cuba, eithercả fromtừ U.S.lãnh territorythổ orHoa fromKỳ thehay territorytừ oflãnh otherthổ countriescủa neighbouringcác toquốc gia lân bang khác của Cuba."<ref name=Faria>{{cite web|last=Faria |first=Miguel |title=Cuba in Revolution&mdash;Escape from a Lost Paradise |year=2002 |publisher= Hacienda Publishing |location=Macon, Georgia | ISBN=0-9641077-3-2}}</ref>{{rp|103}}
 
TheHoa UKỳ tiếp vẫn tục công việc cách ly phong tỏa Cuba.S continuedTrong thenhững quarantinengày tiếp theo sau đó, andcác inchuyến thebay followingdo days,thám aerialđã reconnaissancecho provedthấy thatrằng theLiên Soviets weređang makingdần progress intiến removingtriển thetrong missileviệc systems.tháo Thebỏ các hệ thống tên lửa. 42 missilestên andlửa their supporttrang equipmentbị werehổ loadedtrợ ontocủa eightchúng Sovietđược shipsđưa lên 8 chiếc tàu Liên Xô. TheNhững shipschiếc lefttàu này rời Cuba fromtừ November5-9 5–9tháng 11. TheHoa U.S.Kỳ madetiến ahành finalquan visualsát checkkiểm aschứng eachlần ofcuối thecùng shipskhi passedmỗi thechiếc quarantinetàu lineđi qua vùng cách ly. Further diplomaticthêm effortsnhiều werenổ requiredlực tongoại removegiao thekhác Sovietđược thực hiện để yêu cầu Liên Xô đưa các oanh tạc cơ Liên Xô IL-28 bombers,về andnước. theySau werecùng loadedcác onphi three Sovietnày shipscũng onđược Decemberđưa lên 3 tàu Liên Xô vào ngày 5 and 6 tháng 12. TheCuộc cách ly chính thức quarantinekết wasthúc previouslytrước formallyđó endedvào atlúc 6:45 p.m. EDTgiờ onmiền NovemberĐông Hoa Kỳ ngày 20, tháng 11 năm 1962.<ref name=global>{{cite web|url=http://www.globalsecurity.org/military/ops/cuba-62.htm|title=Cuban Missile Crisis|publisher=Global Security|accessdate=6 May 2010}}</ref> <!-- This ref. mistakenly has a typo claiming Nov. 20, 1963 is the date of end of quarantine instead of 1962, as the 4-wk. quarantine period would encompass, and not into 1963 -->
 
InTrong hiscác negotiationscuộc withthảo theluận Sovietvới AmbassadorĐại xứ Liên Xô, [[Anatoly Dobrynin]], U.S.Bộ Attorneytrưởng GeneralTư pháp Hoa Kỳ, [[Robert Kennedy]], informallyđã proposedđề thatnghị thekhông chính thức rằng các tên lửa [[PGM-19 Jupiter|Jupiter]] missiles intại [[TurkeyThổ Nhĩ Kỳ]] wouldsẽ beđược removedtháo bỏ "withintrong amột shortkhoảng timethời aftergian thisngắn crisissau waskhi over.cuộc khủng hoảng chấm dứt".<ref>{{cite book | last=Glover |first=Jonathan |title=Humanity: a moral history of the twentieth century |url=http://books.google.com/?id=xtqFJVhmuowC |accessdate=2009-07-02 |year=2000 |publisher=Yale University Press |isbn=0300087004 |pages=464 }}</ref>{{rp|222}} TheCác lasttên U.S.lửa missilescuối werecùng disassembledcủa byHoa AprilKỳ được tháo dở vào ngày 24, tháng 4 năm 1963, and weređược flownđưa outra ofkhỏi Thổ Nhĩ Kỳ Turkeyngay soonsau afterđó.<ref>{{cite book |last=Schlesinger |first=Arthur |title=Robert Kennedy and his times |url=http://books.google.com/?id=0xqrU5lnD7AC&pg=PA528&dq=robert+kennedy+ambassador++cuban+missile |accessdate=July 2, 2009 |year=2002 |publisher=Houghton Mifflin Harcourt |isbn=0618219285 |page=523 |pages=1088 }}</ref>
 
Kết quả thực tế của Hiệp ước Kennedy-Khrushchev là nó đã hửu hiệu làm vững mạnh vị thế của Fidel Castro tại Cuba, bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ không xâm chiếm Cuba. Rất có thể là nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, chỉ đặt tên lửa tại Cuba để bắt buộc Tổng thống Kennedy tháo bỏ các tên lửa khỏi Ý và Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, sự kiện các tên lửa Jupiter bị tháo bỏ khỏi các căn cứ [[NATO]] ở miền nam nước Ý và Thổ Nhĩ Kỳ không được công bố chính thức vào lúc đó nên có vẽ là nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, đã thua trong cuộc xung đột này và trở nên yếu thế. Bề ngoài thì Tổng thống Kennedy đã thắng cuộc tranh đua giữa hai siêu cường và nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, bị mất mặt. Tuy nhiên, đây không phải là toàn bộ vì cả Tổng thốn Kennedy và nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, đã tiến hành từng bước một để tránh cuộc xung đột toàn diện mặc dù bị áp lực từ chính phủ của họ. Nhà lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev, nắm quyền lãnh đạo Liên Xô thêm hai năm.<ref name=Faria/>{{rp|102-105}}
The practical effect of this Kennedy-Khrushchev Pact was that it effectively strengthened Castro's position in Cuba, guaranteeing that the U.S. would not invade Cuba. It is possible that Khrushchev only placed the missiles in Cuba to get Kennedy to remove the missiles from Italy and Turkey and that the Soviets had no intention of resorting to nuclear war if they were out-gunned by the Americans.{{Citation needed|date=May 2010}} However, because the withdrawal of the Jupiter missiles from NATO bases in Southern Italy and Turkey was not made public at the time, Khrushchev appeared to have lost the conflict and become weakened. The perception was that Kennedy had won the contest between the superpowers and Khrushchev had been humiliated. However, this is not entirely the case as both Kennedy and Khrushchev took every step to avoid full conflict despite the pressures of their governments. Khrushchev held power for another two years.<ref name=Faria/>{{rp|102-105}}
 
===Aftermath===
 
===Kết cục===
The compromise was a particularly sharp embarrassment for Khrushchev and the Soviet Union because the withdrawal of U.S. missiles from Italy and Turkey was not made public—it was a secret deal between Kennedy and Khrushchev. The Soviets were seen as retreating from circumstances that they had started—though if played well, it could have looked just the opposite. Khrushchev's fall from power two years later can be partially linked to [[Politburo of the CPSU Central Committee|Politburo]] embarrassment at both Khrushchev's eventual concessions to the U.S. and his ineptitude in precipitating the crisis in the first place. However, the Cuban Missile Crisis was not solely responsible for the fall of Khrushchev.{{Citation needed|date=May 2010}}
 
2.136

lần sửa đổi