Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Paul Ehrlich”

không có tóm lược sửa đổi
n (Tuanminh01 đã đổi Paul Ehrlich (nhà hóa học) thành Paul Ehrlich: sửa lại tên đúng)
Không có tóm lược sửa đổi
{{Infobox scientist
| name = Paul Ehrlich
| image = Paul Ehrlich 1915.jpg
| image_size =
| caption =
| birth_date = {{birth-date|14 March 1854}}
| birth_place = [[Strzelin|Strehlen]], [[Lower Silesia]], [[Kingdom of Prussia|German Kingdom of Prussia]]
| death_date = {{death-date and age|20 August 1915|14 March 1854}}
| death_place = [[Bad Homburg]], [[Hesse]], Germany
| citizenship = German
| field = [[Immunology]]
| workplaces =
| alma_mater =
| known_for = [[Chemotherapy]], [[Immunology]]
| influenced =
| notable_students = [[Hans Schlossburger]]
| prizes = [[Nobel Prize in Physiology or Medicine]] (1908)
| footnotes =
| signature = Paul Ehrlich signature.png
| spouse = Hedwig Pinkus (1864–1948) (m. 1883; 2 children)
| children = Stephanie and Marianne
}}
'''Paul Ehrlich''' sinh ngày 14 tháng 3 năm 1854, mất ngày 20 tháng 8 năm 1915, là một bác sĩ người Đức và một nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực huyết học, miễn dịch và hóa trị liệu kháng khuẩn.
 
Phòng thí nghiệm của ông đã phát hiện ra arsphenamine (Salvarsan), thuốc điều trị hiệu quả đầu tiên cho bệnh giang mai, từ đây khái niệm hóa học được bắt đầu. Ehrlich phổ biến khái niệm một "viên đạn ma thuật". Ông cũng đã có những đóng góp vô cùng quan trọng cho sự phát triển của kháng huyết thanh để chống lại bệnh bạch hầu và tạo ra một phương pháp chuẩn hóa huyết thanh trị liệu.<ref name="CHF">{{cite web|title=Paul Ehrlich|url=https://www.chemheritage.org/historical-profile/paul-ehrlich|website=Chemical Heritage Foundation|accessdate=29 November 2016}}</ref>
 
Năm 1908, ông nhận giải Nobel Sinh lý học và Y khoa vì những đóng góp của ông trong lĩnh vực miễn dịch học. Ông là người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Học viện Paul Ehrlich (tên gọi bây giờ).
 
Sinh ngày 14 tháng 3 năm 1854 ở Strehlen ở Silesia trong vùng Ba Lan. Paul Ehrlich là con thứ hai của Rosa (Weigert) và Ismar Ehrlich<ref name=nobel />. Cha của ông là chủ trọ và là nhà sưu tập xổ số hoàng gia ở Strehelen, một thị trấn của 5.000 dân ở tỉnh Lower Silesia, hiện là Ba Lan. Ông nội của ông, Heymann Ehrlich, đã từng là một công nhân của nhà máy chưng cất và quản lý quán rượu khá thành công. Ismar Ehrlich là lãnh đạo của cộng đồng Do Thái địa phương.
 
Sau khi học tiểu học, Paul đã tham dự trường trung học Maria-Magdalenen-Gymnasium ở Breslau, nơi ông đã gặp Albert Neisser, người sau này trở thành một đồng nghiệp chuyên nghiệp của ông. Là một cậu học trò với niềm cảm hứng mê say từ anh em họ Karl Weigert, người sở hữu một trong những vi mô đầu tiên, ông trở nên bị quyến rũ bởi quá trình nhuộm các chất mô cực. Ông vẫn giữ được sự quan tâm đó trong các nghiên cứu y học tiếp theo của mình tại các trường đại học ở Breslau, Strasbourg, Freiburg im Breisgau và Leipzig. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ năm 1882, ông làm việc tại Charité ở Berlin với tư cách là trợ lý y tế của Theodor Frerichs, người sáng lập ra y học lâm sàng thực nghiệm, tập trung vào mô học, huyết học và hóa học màu (thuốc nhuộm).