Khác biệt giữa các bản “Dwight D. Eisenhower”

(xem dẫn chứng việc ông đảo thứ tự tên gọi khi vào Học viện Quân sự West Point trong phần nói về "thời thơ ấu và gia đình")
[[File:Eisenhower d-day.jpg|thumb|left|Eisenhower nói chuyện với các binh sĩ Trung đoàn Bộ binh Nhảy dù số 502 thuộc Sư đoàn Dù số 101 vào chiều ngày 5 tháng 6 năm 1944.]]
 
Tháng 12 năm 1943, Roosevelt quyết định rằng Eisenhower--chớ không phải Marshall-- sẽ là Tư lệnh Tối cao Đồng minh châu Âu. Tháng 1 năm 1944, ông tiếp nhận lại chức tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu và tháng tiếp theo ông được chính thức giao trọng trách làm Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh, phục vụ một lúc hai chức vụ cho đến khi kết thúc các cuộc kình địch tại [[châu Âu]] vào tháng 5 năm 1945. Với hai chức vụ này, ông đảm trách việc lập kế hoạch và tiến hành cuộc tiến công đổ bộ trên duyên hải Normandy vào tháng 6 năm 1944 dưới mật danh [[Chiến dịch Overlord]], giải phóng [[tây Âu]] và xâm chiếm [[Đức]]. Một tháng sau cuộc đổ bộ [[D-Day]] trên duyên hải Normandy ngày 6 tháng 6 năm 1944, cuộc xâm chiếm miền nam nước Pháp bắt đầu và quyền nắm các lực lượng tham chiến trong cuộc xâm chiếm miền nam được chuyển từ Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh sang Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh. Từ đó cho đến khi kết thúc chiến tranh tại châu Âu ngày 8 tháng 5 năm 1945, Eisenhower với tư cách là Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh đã nắm trong tay bộ tư lệnh tối cao gồm tất cả các lực lượng tác chiến của đồng minh<sup>[[#Notes|2]]</sup>, và với tư cách tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu (tên gọi riêng cho lực lượng Hoa Kỳ tại Mặt trận phía Tây), ông nắm quyền điều hành tất cả các lực lượng Mỹ trên [[Mặt trận phía Tây (Chiến tranh thế giới thứ hai)|Mặt trận phía Tây]], nằm về phía bắc dãy [[Alps]]<ref>[http://www.ibiblio.org/hyperwar/USA/USA-E-Supreme/USA-E-Supreme-5.html US Army in World War II, European Theater of Operations]: ...The U.S. Chiefs of Staff on 25 June strengthened their build-up efforts in the United Kingdom by establishing a Headquarters, European Theater of Operations. General Eisenhower was appointed theater commander]</ref>.{{fact}}
 
Ngày 20 tháng 12 năm 1944, để công nhận chức vụ cao cấp của ông trong Bộ tư lệnh Đồng minh, ông được thăng chức [[thống tướng lục quân (Hoa Kỳ)|thống tướng]], tương đương với cấp bậc [[thống chế]] của phần lớn lục quân châu Âu. Trong chức vụ này và các chức vụ tư lệnh cao trước đây, Eisenhower đã chứng tỏ được tài năng lãnh đạo và ngoại giao rất lớn của mình. Mặc dù ông chưa từng ra chiến trường nhưng ông đã nhận được sự nể trọng của các vị tư lệnh ở tiền tuyến. Ông giao tiếp khéo léo với những thuộc cấp khó khăn như [[George S. Patton]], và các đồng minh như [[Winston Churchill]], Thống chế [[Bernard Montgomery]] và Đại tướng [[Charles de Gaulle]]. Ông có bất đồng cơ bản với Churchill và Montgomery về các vấn đề chiến lược nhưng những vấn đề này hiếm khi làm phương hại đến mối quan hệ của ông với họ. Ông đã thương thảo với [[Georgy Zhukov|Nguyên soái Zhukov]] của [[Liên Xô]],<ref>Memoir of Eisenhower's translator for the [[Potsdam Conference]] meetings with Zhukov {{cite news|title=Ike and Zhukov|author=[[Paul Roudakoff|Paul P. Roudakoff]]|work=Collier's Magazine|date=1955-07-22}}</ref> và vì thế chiếm được sự tin tưởng mà Tổng thống [[Franklin D. Roosevelt]] đã đặt vào ông. Đôi khi ông làm việc trực tiếp với [[Joseph Stalin]].{{Fact}}
2.136

lần sửa đổi