Khác biệt giữa các bản “Nhà Hậu Trần”

Nhà Hậu Trần do [[Giản Định đế]] - Trần Ngỗi thành lập tháng 10 âm lịch năm [[1407]] tại Ninh Bình sau khi nhà nước [[Đại Ngu]] của [[nhà Hồ]] bị [[quân đội]] [[nhà Minh]] [[chiến tranh Minh - Đại Ngu|xâm chiếm và tiêu diệt]]. Trong thời kỳ này, nước [[Đại Ngu]] bị [[nhà Minh]] đổi tên trở lại thành [[Giao Chỉ]] và chia thành 17 [[phủ (định hướng)|phủ]], 5 [[châu]] và 12 [[vệ]] trực thuộc [[Ty Bố Chính]].
 
Do quân mới lập, Giản Định đế phải chạy vào [[Nghệ An]], viên [[Đại tri châu]] châu Hóa châu là [[Đặng Tất]] giết quan nhà Minh, dẫn quân từ [[Hóa châu]] ra theo phò, nhà Hậu Trần làm chủ từ Nghệ An vào Thăng Hoa. Năm [[1408]], quân Hậu Trần tiến quân ra Bắc, đánh bại quân Minh ở [[trận Bô Cô]], bao vây các thành. Năm [[1409]], Giản Định đế giết 2 tướng Đặng Tất, [[Nguyễn Cảnh Chân]], khiến cho 2 người con của họ là [[Đặng Dung]] và [[Nguyễn Cảnh Dị]] bất mãn, kéo quân mình trở về Nghệ An lập [[Trần Quý Khoáng]] lên làm [[Trùng Quang đế]]. Trùng Quang đế sai [[Nguyễn Súy]] bắt được Giản Định đế tôn làm Thượng hoàng, chia quân đánh quân Minh. Quân Minh sau khi được tăng viện liền tiến hành chiến tranh, quân nhà Hậu Trần luisau những chiến thắng ban đầu, dần vềthất phíathế, phải lui về Nam và thất bại hoàn toàn vào năm [[1414]].
 
==Lịch sử==
Năm [[1407]], quân Minh bắt được hai cha con họ Hồ ở cửa biển [[Kỳ La]], đổi An Nam quốc làm '''Giao Chỉ quận''', lập phủ, huyện, đặt quan lại.
 
[[Tháng 6]] cùng năm, Trương Phụ và Mộc Thạnh dẫn quân về nước, để viên giữ ti Đô chỉ huy sứ là Lữ Nghị và viên giữ hai ti Bố chính và Án sát là Hoàng Phúc ở lại trấn thủ Giao Chỉ.<ref name="Nội 1998">Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 340</ref>
{{xem thêm|Đặng Tất}}
[[Tập tin:NuocDaiNguthoinhaHo1402.jpg|300px|thumb|Bản đồ nước Đại Ngu thời nhà Hồ<ref>trong bản đồ này Thăng Bình phủ tức là Thăng Hoa</ref>]]
Nhà Hồ bị diệt rồi, Trương Phụ sai yết bảng tìm bắt con cháu họ Trần, nói là để phục vị nhưng thực tế là ngấm ngầm giết bỏ để diệt trừ tận gốc. Người con thứ của Trần Nghệ Tông tên là Trần Ngỗi, trước được làm Giản Định vương, nhà Hồ lên thay cải phong làm Nhật Nam quận vương, phải chạy trốn đến bến Yên Mô, Ninh Bình.<ref name="Nội 1998"/>
 
Người Thiên Trường là Trần Triệu Cơ đem dân chúng theo, Trần Ngỗi bèn xưng là Giản Định hoàng đế, lên ngôi ở Mô Độ, thuộc Tràng An, Ninh Bình hay xã Yên Mô, huyện Yên Mô, Ninh Bình, đặt niên hiệu Hưng Khánh. Người nhà Minh đem quân đến đánh, vì quân mới họp tập, nên chưa đánh nhau mà tự tan vỡ, Trần Ngỗi phải chạy vào Nghệ An. Viên đại tri châu ở Hóa Châu là [[Đặng Tất]] nghe tin, liền giết quan nhà Minh, đem quân đến họp. Đặng Tất dâng con gái cho Giản Định, Giản Định phong cho Tất làm quốc công, cùng nhau mưu tính việc khôi phục.<ref name="Nội 1998"/>
Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: ''Mùa đông tháng 10 ngày mồng 2, Giản Định Đế lên ngôi ở Mô Độ [[Ninh Bình|châu Trường Yên]], dựng niên hiệu là Hưng Khánh. Trước là Trương Phụ yết bảng bắt những người tôn thất nhà Trần và cựu thần đầu mục đem về. Vua trốn đến Mô Độ. Người [[Nam Định|phủ Thiên Trường]] là Trần Triệu Cơ đem quân đến tập xưng theo hiệu cũ. Tháng 4, quân Minh đánh vào hành dinh, vì là quân mới chiêu tập, không đánh mà tan. Vua bèn đi về miền Tây, tạm đóng ở Nghệ An. Đại chi châu châu Hóa là [[Đặng Tất]] nghe tin giết chết quan nhà Minh đem quân đến họp với vua, tiến con gái sung vào hậu cung. Vua phong Tất làm quốc công, cùng nhau mưu việc khôi phục.''
 
Ở Bình Than, lúc ấy có Trần Nguyệt Hồ khởi binh chống lại nhà Minh, nhà Minh đem quân đánh, bắt giết được Nguyệt Hồ. Tháng 12, 1407, Giản Định đế Trần Ngỗi sai Trần Nguyên Tôn đến Bình Than chiêu dụ quân lính ở Bình Than. Quân Minh đến đánh úp, quân của Trần Nguyên Tôn tan vỡ, chạy vào Nghệ An. Toán quân Nguyệt Hồ tan rã rồi, Giản Định đế sai Trần Nguyên Tôn, Trần Dương Đình, Trần Nghiện Chiêu lại cùng Phạm Chấn thu thập số quân còn lại, hội họp ở Bình Than. Quân nhà Minh đến đánh, lại tan vỡ, bèn cùng nhau chạy vào Nghệ An.<ref name="Nội 1998"/>
 
Trần Thúc Dao và Trần Nhật Chiêu là con của Trần Nguyên Đán, trước đây đầu hàng nhà Minh, Trương Phụ cho Trần Thúc Dao giữ Diễn Châu, Trần Nhật Chiêu giữ Nghệ An. Nay quân nhà Hậu Trần kéo đến, Giản Định đế lấy cớ 2 người này không đón rước, nên bắt giết cùng đồ đảng hơn 600 người.<ref>Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 3401</ref>
Tháng 3 âm lịch năm [[1409]], sau khi Giản Định Đế giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân thì các con của hai ông là [[Đặng Dung]] và [[Nguyễn Cảnh Dị]] bỏ đi, đón Trần Quý Khoáng về lập vua. Trần Quý Khoáng hay Trần Quý Khoách <ref>sách Việt sử tiêu án, Việt Nam sử lược gọi ông là Quý Khoách</ref> là con Mẫu Vương Thích, cháu vua Nghệ Tôn, hàng cháu vua Giản Định đế. Vua lên ngôi tại Chi La, [[Nghệ An]], lấy niên hiệu là Trùng Quang. Trùng Quang đế dùng Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã.<ref name="ReferenceA"/>
 
Lúc này Giản Định đế đang ở thành Ngự Thiên<ref>Tên huyện, tức làng Đa Cương xưa, mộ tổ nhà Trần ở đấy, cho nên gọi là Ngự Thiên; nhà Lê theo gọi tên ấy; nay đổi là Hưng Nhân thuộc tỉnh Hưng Yên.</ref>, chống nhau với nhà Minh. Trùng Quang đế sai Nguyễn Súy mang quân đến đánh úp, bắt được Giản Định đế. Mẹ Giản Định đế là Hưng Khánh Thái hậu và bầy tôi là Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh bàn nhau khởi binh đánh úp lại Trùng Quang đế - Trần Quý Khoáng. Việc bị tiết lộ, Trùng Quang đế bắt giết Lê Tiệt và Nguyên Đỉnh, còn thì tha cả. Gặp khi ấy Nguyễn Súy đưa Giản Định đế đến Nghệ An, Trùng Quang đế thay mặc mũ áo thường ra đón tiếp. Trùng Quang đế bèn tôn Giản Định đế làm Thượng hoàng, cùng nhau mưu tính việc khôi phục.<ref name="ReferenceB">Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 343</ref>
 
=== Quân Minh phản công ===
Quân Minh sau trận đại bại ở Bô Cô, Mộc Thạnh phải chạy về cố thủ ở thành Đông Quan. Tháng 7 năm 1409, Thượng hoàng Trần Ngỗi và vua Trùng Quang chia quân hai đường đánh quân Minh. Thượng hoàng Giản Định đế đóng ở Hạ Hồng (Ninh Giang), Trùng Quang đế đóng ở Bình Than. Quân Minh cố thủ không dám ra đánh.<ref name="ReferenceB"/>
 
Được tinh Mộc Thạnh thất trận, nhà Minh điều Trương Phụ mang 47.000 quân sang cứu viện<ref name="Karl Hack, trang 85"/>, thế quân Minh lại lên. Giản Định đế-Trần Ngỗi bỏ thuyền lên bờ, chạy về trấn Thiên Quan. Trùng Quang đế ngờ thượng hoàng có ý tách lực lượng riêng nên sai Nguyễn Suý đuổi theo nhưng không kịp. Trương Phụ mang quân đuổi theo bắt được Giản Định đế- Trần Ngỗi và thái bảo Trần Hy Cát, sai giải về Kim Lăng (Trung Quốc) và sát hại.<ref name="ReferenceB"/>
 
Tháng 8, [[Trùng Quang Đế]] cầm cự với Trương Phụ ở [[Bình Than]]. Vua lệnh cho [[Đặng Dung]] giữ cửa Hàm Tử. Bấy giờ lương thực rất thiếu thốn, Đặng Dung chia quân đi gặt lúa sớm để cấp cho quân. Quân Minh dò biết, dùng thủy quân đánh cửa Hàm Tử, quân của Dung tan vỡ. Minh sử ghi lại Trương Phụ đánh với 20.000 quân Hậu Trần có 600 thuyền chiến, giết hơn 3.000 người, số bị chết đuối "vô số", và bắt được hơn 400 thuyền chiến<ref>Ming shilu, vol. 1. pp 283-284; Yamamoto, Annan shi kenkyu [A study of the history of Annam] 1095, p. 435</ref>.
Tháng 5, 1410, vua Trùng Quang đế tiến quân từ Nghệ An ra Hồng Châu, giao chiến với quân Minh ở đây, bị thua. Trùng Quang đem Nguyễn Cảnh Dị lại tiến quân đến Hồng Châu lần nữa, phá đạo quân của Đô đốc Giang Hạo, nhân thế thắng, tiến thẳng đến Bình Than. Hào kiệt người Việt nghe tiếng, nhiều người hưởng ứng. Đồng Mặc, người Thanh Hóa, hiệu là Lỗ Lược tướng quân, tung quân ra đánh quân nhà Minh, bắt được chỉ huy Tả Địch.
 
Trùng Quang đế trao cho Mặc quản trị phủ Thanh Hóa. Lại có Nguyễn Ngân Hà, Lê Nhị, Lê Khang, Đỗ Cối và Nguyễn Hiêu cũng đều đem dân chúng đánh giết quân nhà Minh. Nhưng vì quân không có người thống lãnhlĩnh, hiệu lệnh không thống nhất, nên quân nhà Minh đi đến đâu, thì quân sĩ ở nơi ấy liền bị tan vỡ. Trùng Quang đế lại dẫn quân về Nghệ An.<ref>Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 344</ref>
 
===Xin nhà Minh phong tước===
Trước đây, vua Trùng Quang sai Hành khiển Nguyễn Nhật Ti và Thẩm hình Lê Ngân sang nhà Minh xin phong tước; vua nhà Minh tức giận, bắt giam hai người ấy rồi giết đi. Đến nay lại sai Hành khiển Hồ Nghiện Thần sung chức chánh sứ cầu phong, Thẩm hình Bùi Nột Ngôn làm phó, sang nhà Minh, đem dâng tờ biểu và phẩm vật địa phương cùng người vàng, người bạc thế mạng, mỗi thứ một người. Khi Nghiện Thần đến Yên Kinh, vua Minh sai Hồ Nguyên Trừng mượn cớ là tình nghĩa cố cựu, hỏi về tình hình trong nước mạnh yếu hư thực thế nào, Nghiện Thần nói hết cho Nguyên Trừng biết. Nột Ngôn không chịu khuất phục.
 
Vua nhà Minh giả vờ phong cho vua Trùng Quang làm Bố chánh sứ ở Giao Chỉ, Nghiện Thần làm tri phủ Nghệ An. Khi về đến nước, Nột Ngôn đem việc Nghiện Thần tiết lộ tình hình trong nước và nhận quan chức do nhà Minh phong trình bày hết cho ĐếTrùng QuýQuang Khoángđế biết, vua Trùng Quang bèn bắt giam Nghiện Thần rồi giết đi.<ref name="ReferenceC">Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1998, bản điện tử, trang 345</ref>
 
===Chiến sự tại Nghệ An===
Dù rằng bị đánh lui về phía nam, nhưng lực lượng nhà Trần tiếp tục hoạt động và kiểm soát từ Nghệ An trở vào, nhà Minh liên tục phải điều động quân từ Quảng Tây sang tiếp viện cho Mộc Thạnh. Đầu năm 1411, vua Minh lại điều Trương Phụ dẫn 2414 vệ, tổng cộng 78.600 quân (Minh sử ghi 2.000400 quân) sang tiếp việc cho Mộc Thạnh để đánh dẹp nhà Hậu Trần. Quân Minh tiến về phía nam, đường thủy do Trương Phụ, đường bộ do Mộc Thạnh chỉ huy, định đánh kẹp quân nhà Trần lại tại các căn cứ dọc các cửa sông đổ ra biển<ref>Dreyer, trang 210</ref>.
 
Tháng 6 năm 1412, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân đánh vào [[Nghệ An]], gặp [[Nguyễn Súy|Nguyễn Suý]], [[Nguyễn Cảnh Dị]], Đặng Dung ở Mô Độ. Hai bên liều chết đánh nhau chưa phân thắng bại, thì Súy và Cảnh Dị vượt biển chạy, Hồ Bối bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung thế cô, không có cứu viện, liền đi thuyền nhẹ vượt biển trốn đi.<ref name="ReferenceC"/>
Theo sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư:'' Trùng Quang Đế lấy quân một lữ để mưu khôi phục đất nước trong lúc loạn lạc lưu ly, ví như dùng một cây gỗ để chống giữ ngôi nhà lớn đã đổ, chả lẽ không biết rằng thế không thể cứu vãn được nữa hay sao? Nhưng hãy làm hết bổn phận nên làm, ngõ hầu có thể vãn hồi được thiên mệnh!.Còn như khi bị giặc bắt đem về, giữ nghĩa không chịu nhục, cam lòng nhảy xuống biển mà chết, để cùng mất với nước, thực đúng là "quốc quân chết vì xã tắc", mà các bề tôi của ngài như Cảnh Dị chửi giặc mong cho chúng giết ngay mình, Nguyễn Biểu kể tội ác của giặc rồi chết, đều là những người đáng ca ngợi cả. Chỉ có Hồ Ngạn Thần đi sứ làm nhục mệnh vua, đã bị giết rồi, Phan Liêu đem tình hình mạnh yếu trong nước đi báo cho giặc, tuy được thoát chết trong một thời, nhưng sau lại bị Thái Tổ Cao Hoàng Đế ta giết chết. Than ôi, người làm tôi trung với nước tuy chết vì nghĩa không có tội gì, mà để lại tiếng thơm mãi mãi, còn bọn bất trung phản quốc, không khỏi tránh khỏi chết, lại còn để tiếng xấu ngàn năm, thực đúng như thế''
 
Theo Ngô Thì Sĩ bàn trong Việt sử tiêu án:'' Vua Giản Định và Trùng Quang đều là con cháu vua Nghệ TônTông, Trần Triệu Cơ lập lên để nối ngôi vua đã bị mất, Nguyễn Cảnh Chân dắt díu đi đánh chống bọn giặc mạnh; trận thắng ở Bô Cô, thanh thế cũng đã lừng lẫy, mà vội nghe lời dèm pha của 2 đứa hoạn quan, bỏ mất vị tướng trụ cột, tự chuốc lấy bại vong, chả đáng nói nữa. Đến vua Trùng Quang quật khởi lên được, duy chỉ 2 tướng Nguyễn và Đặng phụ trì hai bên, ngoài ra đều là người chắp tay xem thế sự; chỉ có một xó Nghệ và Diễn là nơi ra vào công thủ, ngoài ra không còn mảnh đất nào để dụng võ; lặn lội ở góc biển chân non, trận thắng ở La Tân, Bình Than không bù lại được những trận thua ở Linh Trường, Nguyệt Thường; tuy lũ Dung và Súy có chí không chịu lùi, nhưng mà quân giặc vẫn chiếm phần tiện nghi hơn; đất Quảng, Thuận hiểm trở coi như có thể tựa nương được, nhưng tình thế đất ấy nào đã bị quân phản bội chỉ rõ cho giặc rồi, tai nạn bị bắt ở Lão Qua thật cũng đáng thương!''
phụ trì hai bên, ngoài ra đều là người chắp tay xem thế sự; chỉ có một xó Nghệ và Diễn là nơi ra vào công thủ, ngoài ra không còn mảnh đất nào để dụng võ; lặn nội ở góc biển chân non, trận thắng ở La Tân, Bình Than không bù lại được những trận thua ở Linh Trường, Nguyệt Thường; tuy lũ Dung và Xuất có chí không chịu lùi, nhưng mà quân giặc vẫn chiếm phần tiện nghi hơn; đất Quảng, Thuận hiểm trở coi như có thể tựa nương được, nhưng tình thế đất ấy nào đã bị quân phản bội chỉ rõ cho giặc rồi, tai nạn bị bắt ở Lão Qua thật cũng đáng thương!''
 
Theo Trần Trọng Kim bàn về Đặng Dung trong Việt Nam sử lược:''Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.''<ref>Việt Nam sử lược, Trung tâm học liệu xuất bản, tr 80</ref>
| [[Giản Định Đế]] || Hưng Khánh<br>(1407-1409) || [[Giản Định Đế|Trần Ngỗi]] || ?-1409 ||[[1407]]-[[1409]]
|-----
| [[Trùng Quang Đế]] || Trùng Quang<br>(1409-1414) || [[Trùng Quang Đế|Trần Quý KhoáchKhoáng]] || ?-[[1414]] || [[1409]]-[[1413|141]]4
|-----
|}
Ngoài 2 vị vua chính thức ra thì còn có [[Trần Cảo]]. Tuy nhiên Trần Cảo chỉ là 1 thường dân được Lê Lợi lập làm vua bù nhìn trong thời kỳ [[Khởi nghĩa Lam Sơn]].
 
==Các tướng nhà Hậu Trần==
148

lần sửa đổi