Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Người Hitti”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Trình soạn thảo mã nguồn 2017
Không có tóm lược sửa đổi
{{distinguish|Hattians}}
[[Tập tin:AlterOrient2.png|nhỏ|phải|310px|Đế chế Hittite (xanh dương)]]
{{refimprove|date=May 2017}}
'''Hittite''' là một dân tộc nói [[hệ ngôn ngữ Ấn-Âu|hệ ngôn ngữ Ấn - Âu]] ở [[Tiểu Á]] [[thời đại đồ đá|thời kỳ đồ đá]]. Họ đã thành lập một vương quốc xung quanh [[Hattusa]] phía bắc Tiểu Á khoảng thế kỷ 18 TCN. [[Đế quốc Hittite|Đế chế Hittite]] đã đạt tới thời kỳ cực thịnh vào khoảng thế kỷ 14 TCN, bao gồm một khu vực rộng lớn của Tiểu Á, tây bắc [[Syria]] Litani, phía nam xa tận xuống cửa [[sông Litani]] ([[Liban]] ngày nay). Quân đội Hittite sử dụng thành thạo [[chiến xa|xe ngựa kéo]] (Chariot) trong chiến đấu<ref>Kate Santon: ''Archaeology'', Parragon Books Ltd, London 2007</ref>. Vào giữa thế kỷ 14 TCN (dưới thời vua [[Suppiluliuma I]]), họ đã hình thành một đế chế bao gồm phần lớn Tiểu Á cũng như nhiều phần ở phía bắc [[Levant]] và [[Al-Jazira, Lưỡng Hà|Thượng Lưỡng Hà]]. Sau khoảng năm 1180 TCN, đế chế bị phân chia thành nhiều thành bang "Tân Hittite" độc lập, một số tồn tại đến tận thế kỷ 8 TCN.
{{Use dmy dates|date=July 2013}}
 
{{Infobox Former Country
[[Tiếng Hittite]] thuộc [[ngữ tộc Tiểu Á|nhóm ngôn ngữ Tiểu Á]] của [[hệ ngôn ngữ Ấn-Âu]]<ref>Dr Andrew McCarthy, University of myles {{Clarify|date=August 2011}} c gy 1B Lecture{{Verify source|date=January 2010}}</ref>. Vốn dĩ họ gọi vùng đất của họ là "Hatti" và ngôn ngữ họ dùng là ''Nesili'' (ngôn ngữ của ''Nesa'').
|native_name = Đế quốc Hittite
|conventional_long_name =
|common_name = Hittite
|continent = Asia, Europe
|region = [[Anatolia]]
|country =
|era = Bronze Age
|status =
|government_type = [[Absolute monarchy]] <small>(Old Kingdom)</small><br>[[Constitutional monarchy]]<small> (Middle and New Kingdom)</small><ref>Crime and Punishment in the Ancient World - Page 29, Israel Drapkin - 1989</ref>
|year_start = c. 1600 BC
|year_end = c. 1178 BC
|event_start =
|event_end =
|p1 =Kanesh
|flag_p1 =KarumKanis.svg
|p2 =
|p3 =
|s1 =Syro-Hittite states
|flag_s1 =NeoHittiteStates.gif
|image_flag =
|flag_type =
|coa_size =
|image_map = AlterOrient2.png
|image_map_caption = Đế Quốc Hittite (màu xanh dương)
|capital = [[Hattusa]]
|common_languages = [[Hittite language|Hittite]], [[Luwian language|Luwian]], [[Akkadian language|Akkadian]], many others
|religion =
|currency =
|title_leader = [[List of Hittite kings]]
|leader1 = [[Labarna I]] <small>(first)</small>
|year_leader1 =
|leader2 = [[Suppiluliuma II]] <small>(last)</small>
|year_leader2 =
|Currency =
|stat_year1 =
|stat_area1 =
|stat_year2 =
|stat_pop1 =
|stat_pop2 =
|legislature =
|today = {{flag|Turkey}}<br>{{flag|Syria}}<br>{{flag|Lebanon}}
}}
Người Hittite (/ hɪtaɪts /) là một người Anatolian cổ đại đã thành lập một đế chế tập trung vào Hattusa ở Anatolia Bắc Trung Quốc khoảng năm 1600 TCN. Đế chế này đạt đến đỉnh cao vào giữa thế kỷ 14 trước Công nguyên theo Suppiluliuma I, khi nó bao trùm một khu vực bao gồm hầu hết Anatolia cũng như các phần của vùng phía bắc Levant và Mesopotamia trên. Giữa thế kỷ 15 và 13 TCN đế chế Hittite đã xung đột với đế chế Ai Cập, Đế quốc Assyrian Trung cổ và đế chế Mitanni để kiểm soát vùng Cận Đông. Người Assyria cuối cùng đã nổi lên như là quyền lực thống trị và sát nhập phần lớn đế quốc Hittite, trong khi những người còn lại đã bị những người mới đến Phrygian sa thải cho khu vực. Sau c. 1180 TCN, trong thời kỳ đồ đồng, người Hittites nảy nở thành nhiều thành phố độc lập "Neo-Hittite" độc lập, một số đã tồn tại cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên trước khi lâm trận với đế quốc Neo-Assyrian.
 
Ngôn ngữ Hittite là một thành viên riêng biệt của chi nhánh Anatolian thuộc họ ngôn ngữ Ấn-Âu, và cùng với ngôn ngữ Lu relatedi có liên quan, là ngôn ngữ lịch sử lâu đời nhất của Ấn Độ-Âu. [2] Họ đã đề cập đến quê hương của họ như Hatti. Cái tên thông thường "Hittites" là do sự nhận dạng ban đầu của họ với những người theo Kinh thánh Hittites trong khảo cổ học thế kỷ 19. Mặc dù sử dụng tên Hatti cho lãnh thổ cốt lõi của họ, Hittites nên được phân biệt với Hattians, một người sớm hơn những người sống ở cùng một khu vực (cho đến khi bắt đầu của thiên niên kỷ 2 TCN) và nói một ngôn ngữ không liên quan được gọi là Hattic.
Dù thuộc [[thời đại đồ đồng|thời kỳ đồ đồng]], dân tộc Hittite là những người tiền bối của [[thời đại đồ sắt|thời kỳ đồ sắt]]. Họ đã phát triển kỹ thuật tạo tác đồ sắt ngay từ thế kỷ 14 TCN.
Trong những năm 1920, sự quan tâm đến người Hittites tăng lên cùng với sự ra đời của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại và thu hút sự chú ý của các nhà khảo cổ như Halet Çambel và Tahsin Özgüç, dẫn đến việc giải mã các chữ tượng hình người Hittite. Trong thời kỳ này, lĩnh vực mới của tiếng Hittitology cũng ảnh hưởng đến việc đặt tên cho các tổ chức, chẳng hạn như ngân hàng quốc doanh Etibank ("ngân hàng Hittite"), và nền tảng của Bảo tàng văn minh Anatolian ở Ankara, cách 200 km về phía tây của thủ đô Hittite và nhà ở là triển lãm toàn diện nhất về các hiện vật Hittite trên thế giới.
 
Lịch sử của nền văn minh Hittite được biết đến chủ yếu từ các văn bản hình chữ nhật được tìm thấy trong khu vực của vương quốc của họ, và từ sự tương giao ngoại giao và thương mại được tìm thấy trong các văn khố khác nhau ở Assyria, Babylonia, Ai Cập và Trung Đông, việc giải mã đó cũng là một sự kiện quan trọng trong lịch sử của ngôn ngữ học Đông Âu. Quân Hittite đã sử dụng thành công xe cộ [5], và mặc dù thuộc thời đại đồ đồng, người Hittites là tiền thân của thời kỳ đồ sắt, phát triển sản xuất hiện vật bằng sắt từ đầu thế kỷ 18 trước Công nguyên; vào lúc này, những món quà từ "người đàn ông Burushanda" của một ngai sắt và một cái búa sắt cho vua Kaneshite Anitta đã được ghi lại trong văn bản Anitta văn bản.
==Chú thích==
{{tham khảo|2}}
11

lần sửa đổi