Khác biệt giữa các bản “Ranh giới chuyển dạng”

n
robot Thay: uk:Трансформний розлом; sửa cách trình bày
n (robot Thêm: et:Transformmurrang)
n (robot Thay: uk:Трансформний розлом; sửa cách trình bày)
[[ImageTập tin:Transform fault-1.svg|thumb|250px|Dứt gãy chuyển dạng (đỏ)]]
'''Đứt gãy chuyển dạng''' hay '''ranh giới chuyển dạng''' là [[đứt gãy]] chạy dọc theo ranh giới của [[mảng kiến tạo]]. Chuyển động tương đối của các mảng này là chuyển động trong [[mặt phẳng ngang]] theo hướng hoặc [[trượt bằng phải]] hoặc [[trượt bằng trái]]. Đôi khi cũng gặp các chuyển động thẳng đứng, như các vectơ principal trong đứt gãy chuyển dạng đều có phương nằm ngang. Khong phải tất cả đứt gãy đều là đứt gãy chuyển dạng, cũng như không phải tất cả các ranh giới mảng đều là đứt gãy chuyển dạng.
 
Đứt gãy chuyển dạng là một trong ba loại đứt gãy trong [[kiến tạo mảng]]. Thuật ngữ này được đề xuất bởi [[J. Tuzo Wilson]] vào năm 1965, do ông phát hiện được trường hợp các đứt gãy trượt bằng nghịch dọc theo [[sống núi đại dương]].
 
== Cơ chế ==
Sự chuyển động về bên phải hay trái của một mảng này so với mảng khác dọc theo đứt gãy chuyển dạng có thể gây ra các ảnh hưởng của hiện tượng địa chấn đến của vỏ thạch quyển rõ ràng. Do [[ma sát]], các mảng không thể đơn thuần trượt thụt lùi so với mảng khác. [[Ứng suất]] tạo ra trong cả hai mảng và khi nó vượt quá ứng suất tới hạn của đá trên các mặt của đứt gãy thì [[nội năng]] tích tụ bị giải phóng ở dạng [[ứng suất kéo]]. Ứng suất này mang tính tích lũy và tức thời phụ thuộc vào [[biến dạng chảy]] của đá; vỏ dưới và manti dẻo và mềm chịu sự biến dạng từ từ thông qua [[ứng suất cắt]] trong khi đó phần vỏ trên cứng và giòn thì tạo ra đứt gãy, hoặc giải phóng instantaneous stress gây ra chuyển động dọc theo đứt gãy. Bề mặt dẻo của đứt gãy cũng có thể giải phóng một cách nhanh chóng khi mức độ ứng suất quá lớn. Năng lượng giải phóng bởi ứng suất tức thời là nguyên nhân của [[động đất]] cũng là một dạng thường xảy ra dọc theo ranh giới chuyển dạng.
 
== Các ví dụ ==
[[Đứt gãy San Andreas]] ở [[California]] là một đứt gãy chuyển dạng điển hình chạy dài từ giữa [[nối ba Mendocino]] ở phía bắc và kết thúc ở phía nam [[đới nâng đông Thái Bình Dương]] và bên dưới [[thung lũng Imperial]] ở phía nam.
 
[[ImageTập tin:Alpine Fault SRTM.jpg|thumb|right|400px|Khối nâng [[Nam Alps]] bên cạch [[đứt gãy Alpine]] trên [[bờ biển tây New Zealand|bờ biển tây]] [[New Zealand]], dài khoảng 500 km (300 mi); về phí tây bắc.]]
Các đứt gãy khác:
* [[Đứt gãy Liquiñe-Ofqui]], [[Chile]]
* [[Đứt gãy Great Sumatra]], [[Indonesia]]
* Đứt gãy [[chuyển dạng Biển Chết]], [[Trung Đông]]
* [[Đứt gãy Alpine]], [[New Zealand]]
* [[Đứt gãy Chaman]], [[Pakistan]]
* [[Đứt gãy Bắc Anatolia]], [[Thổ Nhĩ Kỳ]]
* [[Đứt gãy Queen Charlotte]], [[Bắc Mỹ]]
 
== Xem thêm ==
*
* [[Đới đứt gãy]]
* [[Địa chất cấu tạo]]
 
== Tham khảo ==
* International Tectonic Dictionary - AAPG Memoir 7, 1967
* The Encyclopedia of Structural Geology and Plate Tectonics - Ed. by Carl K. Seyfert, 1987
{{reflist|1}}
 
[[Thể loại: Địa chất cấu tạo]]
[[Thể loại: Kiến tạo mảng]]
 
[[ca:Falla transformant]]
[[pt:Falha transformante]]
[[ru:Трансформный разлом]]
[[uk:ТрансформаційнийТрансформний розлом]]
167.270

lần sửa đổi